Home » Doanh nghiệp
NLĐ nghỉ việc không hưởng lương từ 14 ngày trở lên trong tháng vẫn được đóng BHYT bắt buộc
tháng 7 01, 2020 |Đây là một trong những đề xuất của Tổng LĐLĐ Việt Nam tại Hội nghị giao ban công tác dân vận của Đảng đoàn MTTQ Việt Nam, các tổ chức chính trị-xã hội và Ban Bí thư Trung ương Đoàn, vừa được tổ chức chiều nay (29/6).
Tại Hội nghị, ông Nguyễn Đình Khang- Chủ tịch Tổng LĐLĐ Việt Nam cho biết, trong 6 tháng đầu năm 2020, hoạt động Công đoàn chủ yếu tập trung vào việc phối hợp cùng các cơ quan, tổ chức, DN triển khai các giải pháp phòng chống dịch Covid-19 tại nơi làm việc; hỗ trợ, chăm lo đời sống cho đoàn viên, NLĐ.
Cũng trong thời gian này, tổ chức Công đoàn đã kịp thời điều chỉnh các nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm trong nửa đầu năm nay, nhằm đảm bảo thực hiện hiệu quả những giải pháp phòng chống dịch. Đồng thời, làm tốt vai trò đại diện, chăm lo bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng cho đoàn viên, NLĐ.
Nhân dịp này, ông Nguyễn Đình Khang đề xuất Ban Dân vận Trung ương kiến nghị với Bộ Chính trị chỉ đạo Đảng đoàn Quốc hội đồng ý cho phép những trường hợp thỏa thuận tạm hoãn thực HĐLĐ, nghỉ việc không hưởng lương từ 14 ngày trở lên trong tháng vẫn được đóng BHYT bắt buộc theo đối tượng có quan hệ lao động, để đảm bảo quyền lợi BHYT của NLĐ được liên tục, không bị gián đoạn.
Bên cạnh đó, Tổng LĐLĐ Việt Nam cũng đề xuất Ban Dân vận Trung ương kiến nghị Bộ Chính trị chỉ đạo Ban Cán sự Đảng Chính phủ xem xét sửa đổi các điều kiện hỗ trợ cho 2 nhóm đối tượng quy định trong Nghị quyết số 42/NQ-CP, gồm NLĐ tạm hoãn thực hiện HĐLĐ hoặc nghỉ việc không hưởng lương; NLĐ bị chấm dứt HĐLĐ, hợp đồng làm việc nhưng không đủ điều kiện hưởng trợ cấp thất nghiệp... Ngoài ra, xem xét sửa đổi Quyết định 15 về điều kiện hưởng hỗ trợ của NLĐ để số đông NLĐ khó khăn thực sự được tiếp cận gói hỗ trợ này.
Read more…
Tại Hội nghị, ông Nguyễn Đình Khang- Chủ tịch Tổng LĐLĐ Việt Nam cho biết, trong 6 tháng đầu năm 2020, hoạt động Công đoàn chủ yếu tập trung vào việc phối hợp cùng các cơ quan, tổ chức, DN triển khai các giải pháp phòng chống dịch Covid-19 tại nơi làm việc; hỗ trợ, chăm lo đời sống cho đoàn viên, NLĐ.
Cũng trong thời gian này, tổ chức Công đoàn đã kịp thời điều chỉnh các nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm trong nửa đầu năm nay, nhằm đảm bảo thực hiện hiệu quả những giải pháp phòng chống dịch. Đồng thời, làm tốt vai trò đại diện, chăm lo bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng cho đoàn viên, NLĐ.
Nhân dịp này, ông Nguyễn Đình Khang đề xuất Ban Dân vận Trung ương kiến nghị với Bộ Chính trị chỉ đạo Đảng đoàn Quốc hội đồng ý cho phép những trường hợp thỏa thuận tạm hoãn thực HĐLĐ, nghỉ việc không hưởng lương từ 14 ngày trở lên trong tháng vẫn được đóng BHYT bắt buộc theo đối tượng có quan hệ lao động, để đảm bảo quyền lợi BHYT của NLĐ được liên tục, không bị gián đoạn.
Bên cạnh đó, Tổng LĐLĐ Việt Nam cũng đề xuất Ban Dân vận Trung ương kiến nghị Bộ Chính trị chỉ đạo Ban Cán sự Đảng Chính phủ xem xét sửa đổi các điều kiện hỗ trợ cho 2 nhóm đối tượng quy định trong Nghị quyết số 42/NQ-CP, gồm NLĐ tạm hoãn thực hiện HĐLĐ hoặc nghỉ việc không hưởng lương; NLĐ bị chấm dứt HĐLĐ, hợp đồng làm việc nhưng không đủ điều kiện hưởng trợ cấp thất nghiệp... Ngoài ra, xem xét sửa đổi Quyết định 15 về điều kiện hưởng hỗ trợ của NLĐ để số đông NLĐ khó khăn thực sự được tiếp cận gói hỗ trợ này.
Theo báo BHXH
Giảm 50% lệ phí trước bạ - liều thuốc kích cầu cho ô tô nội địa đến hết 2020
tháng 6 28, 2020 |Sáng nay, 28/6, Thủ tướng Chính phủ đã chính thức ký ban hành Nghị định số 70/2020/NĐ-CP quy định mức thu lệ phí trước bạ đối với ô tô sản xuất, lắp ráp trong nước đến hết ngày 31/12/2020.
Theo đó, bắt đầu tư hôm nay, 28/6 đến hết ngày 31/12/2020, mức thu lệ phí trước bạ lần đầu đối với ô tô, rơ moóc hoặc sơ mi rơ moóc được kéo bởi ô tô và các loại xe tương tự được sản xuất, lắp ráp trong nước bằng 50% mức thu quy định tại Nghị định số 20/2019/NĐ-CP của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 140/2016/NĐ-CP của Chính phủ về lệ phí trước bạ và các Nghị quyết hiện hành của Hội đồng nhân dân hoặc Quyết định hiện hành của Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương về mức thu lệ phí trước bạ tại địa phương.
Từ ngày 1/1/2021 trở đi, mức thu lệ phí trước bạ tiếp tục thực hiện theo các quy định tại Nghị định số 20/ và các Nghị quyết hiện hành của Hội đồng nhân dân hoặc Quyết định hiện hành của Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương về mức thu lệ phí trước bạ tại địa phương.
Theo quy định hiện hành, mức thu lệ phí trước bạ đối với ô tô, rơ moóc hoặc sơ mi rơ moóc được kéo bởi ô tô, các loại xe tương tự là 2%.
Riêng ô tô chở người từ 9 chỗ ngồi trở xuống nộp lệ phí trước bạ lần đầu là 10% (Hội đồng nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương quyết định điều chỉnh tăng nhưng tối đa không quá 50% mức quy định chung). Mức thu từ lần thứ 2 trở đi là 2%.
Ô tô vừa chở người, vừa chở hàng (pick-up) có khối lượng chuyên chở nhỏ hơn 1.500 kg và có từ 5 chỗ ngồi trở xuống, ô tô tải VAN có khối lượng chuyên chở nhỏ hơn 1.500 kg nộp lệ phí trước bạ lần đầu với mức thu bằng 60% mức thu lệ phí trước bạ lần đầu đối với ô tô chở người từ 9 chỗ ngồi trở xuống. Mức thu từ lần thứ 2 trở đi là 2%.
Sức mua giảm, tiêu thụ khó khăn
Theo thống kê của Bộ Tài chính, số thu lệ phí trước bạ đối với ô tô chiếm tỷ trọng lớn trong tổng số thu về lệ phí trước bạ và tăng dần qua các năm. Cụ thể: năm 2017 chiếm 69%; năm 2018 chiếm 69,7%; năm 2019 chiếm 74,6%. Số thu lệ phí trước bạ ô tô lắp ráp, sản xuất trong nước trung bình khoảng 16.000 tỷ đồng/năm.
Tuy nhiên, từ tháng 12/2019, đại dịch Covid-19 bùng phát tại Trung Quốc và nhanh chóng lan rộng ra các quốc gia trên thế giới. Hiện tại, Việt Nam đã bước đầu kiểm soát được dịch, tuy nhiên tình hình dịch bệnh trên thế giới vẫn đang tiếp tục diễn biến rất phức tạp và chưa có dấu hiệu chững lại, rất nhiều ngành, nghề bị ảnh hưởng nghiêm trọng, trong đó có ngành sản xuất, lắp ráp ô tô trong nước.
Trong thời gian thực hiện cách ly xã hội, hầu hết các doanh nghiệp sản xuất, lắp ráp ô tô lớn như Thaco, Thành Công, VinFast, Toyota, Honda, Mercedes... phải tạm ngừng hoạt động sản xuất, lắp ráp. Hai tác động rõ nhận thấy của dịch Covid-19 đối với ngành sản xuất, lắp ráp và kinh doanh ô tô trong nước là gián đoạn chuỗi cung ứng và nhu cầu mua ô tô suy giảm.
Theo Hiệp hội các nhà sản xuất ô tô Việt Nam (VAMA), tính chung cả 4 tháng đầu năm 2020, doanh số bán ra của toàn thị trường giảm 38,8% (chỉ còn 60.825 xe) so với cùng kỳ năm 2019; trong đó, xe lắp ráp trong nước giảm 33% trong khi xe nhập khẩu giảm 40% so với cùng kỳ 2019.
Bên cạnh đó, các doanh nghiệp trong chuỗi giá trị như vận tải, nhà cung ứng, nhà phân phối... cũng gặp khó khăn dây chuyền, doanh thu giảm đáng kể.
Đến nay, dịch Covid-19 tại Việt Nam được kiểm soát, các hãng ô tô đã tái khởi động việc sản xuất, nối lại chuỗi cung ứng. Tuy nhiên, trước tác động nặng nề của dịch Covid-19, việc tái sản xuất và nối lại các chuỗi cung ứng sẽ gặp nhiều khó khăn, đặc biệt đối với doanh nghiệp sản xuất, lắp ráp ô tô trong nước do lượng xe tồn kho còn cao nên công suất sản xuất, lắp ráp hiện chỉ duy trì ở mức rất thấp.
Nguyên nhân chính là do tiêu thụ ô tô đang gặp nhiều khó khăn do sức mua trong nước sụt giảm mạnh. Dự báo của các doanh nghiệp cho thấy, do tác động của dịch Covid-19, thị trường ô tô không chỉ bị ảnh hưởng trong năm 2020 có thể còn kéo dài sang các năm tiếp theo.
Read more…
Theo đó, bắt đầu tư hôm nay, 28/6 đến hết ngày 31/12/2020, mức thu lệ phí trước bạ lần đầu đối với ô tô, rơ moóc hoặc sơ mi rơ moóc được kéo bởi ô tô và các loại xe tương tự được sản xuất, lắp ráp trong nước bằng 50% mức thu quy định tại Nghị định số 20/2019/NĐ-CP của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 140/2016/NĐ-CP của Chính phủ về lệ phí trước bạ và các Nghị quyết hiện hành của Hội đồng nhân dân hoặc Quyết định hiện hành của Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương về mức thu lệ phí trước bạ tại địa phương.
Từ ngày 1/1/2021 trở đi, mức thu lệ phí trước bạ tiếp tục thực hiện theo các quy định tại Nghị định số 20/ và các Nghị quyết hiện hành của Hội đồng nhân dân hoặc Quyết định hiện hành của Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương về mức thu lệ phí trước bạ tại địa phương.
Theo quy định hiện hành, mức thu lệ phí trước bạ đối với ô tô, rơ moóc hoặc sơ mi rơ moóc được kéo bởi ô tô, các loại xe tương tự là 2%.
Riêng ô tô chở người từ 9 chỗ ngồi trở xuống nộp lệ phí trước bạ lần đầu là 10% (Hội đồng nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương quyết định điều chỉnh tăng nhưng tối đa không quá 50% mức quy định chung). Mức thu từ lần thứ 2 trở đi là 2%.
Ô tô vừa chở người, vừa chở hàng (pick-up) có khối lượng chuyên chở nhỏ hơn 1.500 kg và có từ 5 chỗ ngồi trở xuống, ô tô tải VAN có khối lượng chuyên chở nhỏ hơn 1.500 kg nộp lệ phí trước bạ lần đầu với mức thu bằng 60% mức thu lệ phí trước bạ lần đầu đối với ô tô chở người từ 9 chỗ ngồi trở xuống. Mức thu từ lần thứ 2 trở đi là 2%.
Sức mua giảm, tiêu thụ khó khăn
Theo thống kê của Bộ Tài chính, số thu lệ phí trước bạ đối với ô tô chiếm tỷ trọng lớn trong tổng số thu về lệ phí trước bạ và tăng dần qua các năm. Cụ thể: năm 2017 chiếm 69%; năm 2018 chiếm 69,7%; năm 2019 chiếm 74,6%. Số thu lệ phí trước bạ ô tô lắp ráp, sản xuất trong nước trung bình khoảng 16.000 tỷ đồng/năm.
Tuy nhiên, từ tháng 12/2019, đại dịch Covid-19 bùng phát tại Trung Quốc và nhanh chóng lan rộng ra các quốc gia trên thế giới. Hiện tại, Việt Nam đã bước đầu kiểm soát được dịch, tuy nhiên tình hình dịch bệnh trên thế giới vẫn đang tiếp tục diễn biến rất phức tạp và chưa có dấu hiệu chững lại, rất nhiều ngành, nghề bị ảnh hưởng nghiêm trọng, trong đó có ngành sản xuất, lắp ráp ô tô trong nước.
Trong thời gian thực hiện cách ly xã hội, hầu hết các doanh nghiệp sản xuất, lắp ráp ô tô lớn như Thaco, Thành Công, VinFast, Toyota, Honda, Mercedes... phải tạm ngừng hoạt động sản xuất, lắp ráp. Hai tác động rõ nhận thấy của dịch Covid-19 đối với ngành sản xuất, lắp ráp và kinh doanh ô tô trong nước là gián đoạn chuỗi cung ứng và nhu cầu mua ô tô suy giảm.
Theo Hiệp hội các nhà sản xuất ô tô Việt Nam (VAMA), tính chung cả 4 tháng đầu năm 2020, doanh số bán ra của toàn thị trường giảm 38,8% (chỉ còn 60.825 xe) so với cùng kỳ năm 2019; trong đó, xe lắp ráp trong nước giảm 33% trong khi xe nhập khẩu giảm 40% so với cùng kỳ 2019.
Bên cạnh đó, các doanh nghiệp trong chuỗi giá trị như vận tải, nhà cung ứng, nhà phân phối... cũng gặp khó khăn dây chuyền, doanh thu giảm đáng kể.
Đến nay, dịch Covid-19 tại Việt Nam được kiểm soát, các hãng ô tô đã tái khởi động việc sản xuất, nối lại chuỗi cung ứng. Tuy nhiên, trước tác động nặng nề của dịch Covid-19, việc tái sản xuất và nối lại các chuỗi cung ứng sẽ gặp nhiều khó khăn, đặc biệt đối với doanh nghiệp sản xuất, lắp ráp ô tô trong nước do lượng xe tồn kho còn cao nên công suất sản xuất, lắp ráp hiện chỉ duy trì ở mức rất thấp.
Nguyên nhân chính là do tiêu thụ ô tô đang gặp nhiều khó khăn do sức mua trong nước sụt giảm mạnh. Dự báo của các doanh nghiệp cho thấy, do tác động của dịch Covid-19, thị trường ô tô không chỉ bị ảnh hưởng trong năm 2020 có thể còn kéo dài sang các năm tiếp theo.
Cổng thông tin Hải quan
Nội dung dự kiến sửa đổi về thủ tục hải quan tác động trực tiếp đến doanh nghiệp
tháng 6 25, 2020 |Cục trưởng Cục Giám sát quản lý về hải quan Âu Anh Tuấn cho biết, dự thảo Thông tư sửa đổi, bổ sung Thông tư 38/2015/TT-BTC, Thông tư 39/2018/TT-BTC quy định về thủ tục hải quan; kiểm tra, giám sát hải quan; thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu và quản lý thuế đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu đang được Tổng cục Hải quan lấy ý kiến sẽ bổ sung nhiều quy định theo hướng đơn giản, ứng dụng tối đa công nghệ thông tin.
Cụ thể những vấn đề phát sinh từ thực tiễn
Đối với nhóm vấn đề về thủ tục hải quan, những vấn đề dự kiến sửa đổi liên quan đến khai bổ sung sau thông quan trong trường hợp gửi thiếu hàng. Quy định hiện hành chỉ quy định hồ sơ và trình tự cụ thể đối với trường hợp khai bổ sung sau thông quan trong trường hợp gửi thiếu hàng và hàng hóa chưa đưa hoặc đưa một phần ra khỏi khu vực giám sát hải quan. Do chưa có quy định cụ thể hồ sơ và thủ tục hải quan đối với trường hợp khai bổ sung sau thông quan trong trường hợp gửi thiếu hàng và hàng hóa đã được đưa toàn bộ ra khỏi khu vực giám sát hải quan dẫn đến các chi cục hải quan chưa có cơ sở để hướng dẫn doanh nghiệp thực hiện.
Để hướng dẫn các đơn vị thực hiện trong quá trình thực hiện thủ tục hải quan, Tổng cục Hải quan đề xuất sửa đổi, bổ sung theo hướng quy định rõ hồ sơ và trình tự thủ tục đối với 2 trường hợp. Trường hợp khai bổ sung sau thông quan trong trường hợp gửi thiếu hàng và hàng hóa chưa đưa hoặc đưa một phần ra khỏi khu vực giám sát hải quan và trường hợp khai bổ sung sau thông quan trong trường hợp gửi thiếu hàng và hàng hóa đã được đưa toàn bộ ra khỏi khu vực giám sát hải quan.
Đối với các trường hợp hủy tờ khai hải quan, quy định hiện hành chưa quy định các trường hợp sau: Tờ khai hải quan đã đăng ký nhưng chưa hoàn thành thủ tục hải quan, người khai hải quan từ chối nhận hàng và đã được cơ quan Hải quan giám sát tái xuất theo quy định tại khoản 4 Điều 48 Nghị định số 08/2015/NĐ-CP được sửa đổi, bổ sung tại khoản 21 Điều 1 Nghị định số 59/2018/NĐ-CP. Việc xử lý tờ khai hải quan đã đăng ký, cơ quan hải quan đang hướng dẫn trong quy trình nội bộ là sau khi thực xuất sẽ đưa tờ khai thành trạng thái xử lý thủ công để thanh khoản trên Hệ thống. Tuy nhiên, để minh bạch với người khai hải quan vẫn cần thông báo trạng thái hủy tờ khai cho doanh nghiệp để biết.
Trường hợp tờ khai hải quan chưa hoàn thành thủ tục hải quan trong trường hợp tổ chức, cá nhân tại Việt Nam nhận chuyển nhượng xe ô tô của đối tượng được hưởng quyền ưu đãi, miễn trừ, nhưng giữa đối tượng được hưởng quyền ưu đãi, miễn trừ (người chuyển nhượng xe) và tổ chức, cá nhân tại Việt Nam (người nhận chuyển nhượng xe) đã hủy hợp đồng mua bán.
Tháo gỡ vướng mắc kiểm tra giấy phép
Dự thảo Thông tư sửa đổi, bổ sung quy định về kiểm tra giấy phép xuất khẩu, nhập khẩu, kết quả kiểm tra chuyên ngành theo hướng tạo thuận lợi cho doanh nghiệp. Quy định hiện hành có hướng dẫn kiểm tra và theo dõi trừ lùi số lượng hàng hóa trên giấy phép xuất khẩu, nhập khẩu; kết quả kiểm tra hoặc thông báo miễn kiểm tra chuyên ngành. Ngoài ra, Tổng cục Hải quan cũng đã có văn bản hướng dẫn việc cấp lại Phiếu theo dõi trừ lùi trong trường hợp doanh nghiệp làm mất, thất lạc.
Thời gian qua, thực hiện các Nghị quyết 19 của Chính phủ, các bộ, ngành đã không ngừng cải cách thủ tục hành chính, thay đổi phương thức kiểm tra, Danh mục kiểm tra cũng được cắt giảm, chuyển mạnh từ tiền kiểm sau hậu kiểm, nhiều thủ tục hành chính được thực hiện dưới hình thức điện tử.
Tuy nhiên, trong thực tế thực hiện có phát sinh một số vướng mắc. Cụ thể, đối với giấy phép, kết quả kiểm tra chuyên ngành cấp trên Cổng thông tin một cửa quốc gia. Hiện nay, hệ thống CNTT chưa đáp ứng được việc theo dõi, tự động trừ lùi, thanh khoản giấy phép, kết quả kiểm tra dẫn đến cơ quan Hải quan không thể nhận biết được lô hàng đã xuất khẩu, nhập khẩu theo giấy phép, kết quả kiểm tra hay chưa, đã xuất hiện tình trạng doanh nghiệp sử dụng giấy phép để nhập khẩu nhiều lần và vượt quá lượng hàng ghi trên giấy phép.
Tại Thông tư 38/2015/TT-BTC cũng có hướng dẫn việc Tổng cục Hải quan có văn bản xác nhận giấy phép đã được cấp trên một cửa quốc gia để doanh nghiệp sử dụng để cấp Phiếu theo dõi trừ lùi trong trường hợp sử dụng giấy phép cho nhiều lần xuất khẩu, nhập khẩu, tuy nhiên, với số lượng 178 thủ tục hành chính được thực hiện trên Cổng thông tin một cửa quốc gia thì việc thực hiện như quy định này là đi ngược lại với công tác cải cách thủ tục hành chính hiện nay (doanh nghiệp đã được cấp phép điện tử nhưng vẫn phải có bản giấy văn bản xác nhận), phát sinh thêm thủ tục hành chính và công việc cho cơ quan Hải quan.
Bên cạnh đó, trong lĩnh vực kiểm tra nhà nước về an toàn thực phẩm đối với hàng hóa nhập khẩu, Nghị định số 15/2018/NĐ-CP cũng quy định về việc kiểm tra giảm. Đồng thời cũng giao cho cơ quan Hải quan lựa chọn ngẫu nhiên tối đa 5% trên tổng số lô hàng nhập khẩu thuộc diện kiểm tra giảm trong vòng một năm để kiểm tra hồ sơ sau khi chủ hàng nộp hồ sơ cho cơ quan Hải quan để đăng ký kiểm tra theo phương thức kiểm tra giảm. Tuy nhiên, Nghị định lại không quy định việc cơ quan Hải quan kiểm tra hồ sơ để phản hồi về việc lô hàng, mặt hàng đáp ứng điều kiện được áp dụng phương thức kiểm tra giảm tại khoản 1 Điều 17 Nghị định này. Thực tế hiện nay do chưa có cơ sở dữ liệu về lô hàng, mặt hàng thuộc diện kiểm tra giảm nên việc cơ quan Hải quan xác định được lô hàng, nhập khẩu thuộc diện kiểm tra giảm phải trên cơ sở kiểm tra hồ sơ do chủ hàng đăng ký.
Chính vì vậy, ban soạn thảo đề xuất sửa đổi, bổ sung quy định về kiểm tra giảm như sau: Quy định cụ thể việc kiểm tra, theo dõi trừ lùi giấy phép theo phương thức điện tử; quy định cụ thể trường hợp hàng hóa nhập khẩu được miễn kiểm tra nhà nước về an toàn thực phẩm hoặc thuộc diện kiểm tra an toàn thực phẩm, nhưng được áp dụng phương thức kiểm tra giảm.
Tổng cục Hải quan cũng dự kiến sửa đổi, bổ sung nhiều nội dung liên quan đến thủ tục hải quan, về giám sát hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu đưa vào, đưa ra cảng, kho, bãi, địa điểm; về quản lý kho, bãi, địa điểm; thủ tục hải quan đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu tại chỗ và các vấn đề liên quan đế thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu và quản lý thuế đối với hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu.
Read more…
![]() |
| Hoạt động nghiệp vụ tại Chi cục Hải quan KCN Bắc Thăng Long (Cục Hải quan Hà Nội). Nguồn: Hải quan Online |
Đối với nhóm vấn đề về thủ tục hải quan, những vấn đề dự kiến sửa đổi liên quan đến khai bổ sung sau thông quan trong trường hợp gửi thiếu hàng. Quy định hiện hành chỉ quy định hồ sơ và trình tự cụ thể đối với trường hợp khai bổ sung sau thông quan trong trường hợp gửi thiếu hàng và hàng hóa chưa đưa hoặc đưa một phần ra khỏi khu vực giám sát hải quan. Do chưa có quy định cụ thể hồ sơ và thủ tục hải quan đối với trường hợp khai bổ sung sau thông quan trong trường hợp gửi thiếu hàng và hàng hóa đã được đưa toàn bộ ra khỏi khu vực giám sát hải quan dẫn đến các chi cục hải quan chưa có cơ sở để hướng dẫn doanh nghiệp thực hiện.
Để hướng dẫn các đơn vị thực hiện trong quá trình thực hiện thủ tục hải quan, Tổng cục Hải quan đề xuất sửa đổi, bổ sung theo hướng quy định rõ hồ sơ và trình tự thủ tục đối với 2 trường hợp. Trường hợp khai bổ sung sau thông quan trong trường hợp gửi thiếu hàng và hàng hóa chưa đưa hoặc đưa một phần ra khỏi khu vực giám sát hải quan và trường hợp khai bổ sung sau thông quan trong trường hợp gửi thiếu hàng và hàng hóa đã được đưa toàn bộ ra khỏi khu vực giám sát hải quan.
Đối với các trường hợp hủy tờ khai hải quan, quy định hiện hành chưa quy định các trường hợp sau: Tờ khai hải quan đã đăng ký nhưng chưa hoàn thành thủ tục hải quan, người khai hải quan từ chối nhận hàng và đã được cơ quan Hải quan giám sát tái xuất theo quy định tại khoản 4 Điều 48 Nghị định số 08/2015/NĐ-CP được sửa đổi, bổ sung tại khoản 21 Điều 1 Nghị định số 59/2018/NĐ-CP. Việc xử lý tờ khai hải quan đã đăng ký, cơ quan hải quan đang hướng dẫn trong quy trình nội bộ là sau khi thực xuất sẽ đưa tờ khai thành trạng thái xử lý thủ công để thanh khoản trên Hệ thống. Tuy nhiên, để minh bạch với người khai hải quan vẫn cần thông báo trạng thái hủy tờ khai cho doanh nghiệp để biết.
Trường hợp tờ khai hải quan chưa hoàn thành thủ tục hải quan trong trường hợp tổ chức, cá nhân tại Việt Nam nhận chuyển nhượng xe ô tô của đối tượng được hưởng quyền ưu đãi, miễn trừ, nhưng giữa đối tượng được hưởng quyền ưu đãi, miễn trừ (người chuyển nhượng xe) và tổ chức, cá nhân tại Việt Nam (người nhận chuyển nhượng xe) đã hủy hợp đồng mua bán.
Tháo gỡ vướng mắc kiểm tra giấy phép
Dự thảo Thông tư sửa đổi, bổ sung quy định về kiểm tra giấy phép xuất khẩu, nhập khẩu, kết quả kiểm tra chuyên ngành theo hướng tạo thuận lợi cho doanh nghiệp. Quy định hiện hành có hướng dẫn kiểm tra và theo dõi trừ lùi số lượng hàng hóa trên giấy phép xuất khẩu, nhập khẩu; kết quả kiểm tra hoặc thông báo miễn kiểm tra chuyên ngành. Ngoài ra, Tổng cục Hải quan cũng đã có văn bản hướng dẫn việc cấp lại Phiếu theo dõi trừ lùi trong trường hợp doanh nghiệp làm mất, thất lạc.
Thời gian qua, thực hiện các Nghị quyết 19 của Chính phủ, các bộ, ngành đã không ngừng cải cách thủ tục hành chính, thay đổi phương thức kiểm tra, Danh mục kiểm tra cũng được cắt giảm, chuyển mạnh từ tiền kiểm sau hậu kiểm, nhiều thủ tục hành chính được thực hiện dưới hình thức điện tử.
Tuy nhiên, trong thực tế thực hiện có phát sinh một số vướng mắc. Cụ thể, đối với giấy phép, kết quả kiểm tra chuyên ngành cấp trên Cổng thông tin một cửa quốc gia. Hiện nay, hệ thống CNTT chưa đáp ứng được việc theo dõi, tự động trừ lùi, thanh khoản giấy phép, kết quả kiểm tra dẫn đến cơ quan Hải quan không thể nhận biết được lô hàng đã xuất khẩu, nhập khẩu theo giấy phép, kết quả kiểm tra hay chưa, đã xuất hiện tình trạng doanh nghiệp sử dụng giấy phép để nhập khẩu nhiều lần và vượt quá lượng hàng ghi trên giấy phép.
Tại Thông tư 38/2015/TT-BTC cũng có hướng dẫn việc Tổng cục Hải quan có văn bản xác nhận giấy phép đã được cấp trên một cửa quốc gia để doanh nghiệp sử dụng để cấp Phiếu theo dõi trừ lùi trong trường hợp sử dụng giấy phép cho nhiều lần xuất khẩu, nhập khẩu, tuy nhiên, với số lượng 178 thủ tục hành chính được thực hiện trên Cổng thông tin một cửa quốc gia thì việc thực hiện như quy định này là đi ngược lại với công tác cải cách thủ tục hành chính hiện nay (doanh nghiệp đã được cấp phép điện tử nhưng vẫn phải có bản giấy văn bản xác nhận), phát sinh thêm thủ tục hành chính và công việc cho cơ quan Hải quan.
Bên cạnh đó, trong lĩnh vực kiểm tra nhà nước về an toàn thực phẩm đối với hàng hóa nhập khẩu, Nghị định số 15/2018/NĐ-CP cũng quy định về việc kiểm tra giảm. Đồng thời cũng giao cho cơ quan Hải quan lựa chọn ngẫu nhiên tối đa 5% trên tổng số lô hàng nhập khẩu thuộc diện kiểm tra giảm trong vòng một năm để kiểm tra hồ sơ sau khi chủ hàng nộp hồ sơ cho cơ quan Hải quan để đăng ký kiểm tra theo phương thức kiểm tra giảm. Tuy nhiên, Nghị định lại không quy định việc cơ quan Hải quan kiểm tra hồ sơ để phản hồi về việc lô hàng, mặt hàng đáp ứng điều kiện được áp dụng phương thức kiểm tra giảm tại khoản 1 Điều 17 Nghị định này. Thực tế hiện nay do chưa có cơ sở dữ liệu về lô hàng, mặt hàng thuộc diện kiểm tra giảm nên việc cơ quan Hải quan xác định được lô hàng, nhập khẩu thuộc diện kiểm tra giảm phải trên cơ sở kiểm tra hồ sơ do chủ hàng đăng ký.
Chính vì vậy, ban soạn thảo đề xuất sửa đổi, bổ sung quy định về kiểm tra giảm như sau: Quy định cụ thể việc kiểm tra, theo dõi trừ lùi giấy phép theo phương thức điện tử; quy định cụ thể trường hợp hàng hóa nhập khẩu được miễn kiểm tra nhà nước về an toàn thực phẩm hoặc thuộc diện kiểm tra an toàn thực phẩm, nhưng được áp dụng phương thức kiểm tra giảm.
Tổng cục Hải quan cũng dự kiến sửa đổi, bổ sung nhiều nội dung liên quan đến thủ tục hải quan, về giám sát hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu đưa vào, đưa ra cảng, kho, bãi, địa điểm; về quản lý kho, bãi, địa điểm; thủ tục hải quan đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu tại chỗ và các vấn đề liên quan đế thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu và quản lý thuế đối với hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu.
Hải quan Việt Nam
Hải quan khu công nghiệp Sóng Thần ký kết đối tác với 10 doanh nghiệp tiêu biểu
tháng 6 17, 2020 |Ngày 16/6, Chi cục Hải quan KCN Sóng Thần, Cục Hải quan Bình Dương tổ chức hội nghị đối thoại với 120 doanh nghiệp (DN) và ký kết đối tác với 10 DN tiêu biểu.
Tại hội nghị, đại diện Chi cục Hải quan KCN Sóng Thần đã giới thiệu tới DN một số nội dung mới về Chứng nhận xuất xứ, mã vạch hàng hóa xuất khẩu gồm: Thời điểm nộp chứng từ chứng nhận xuất xứ và hình thức chứng từ chứng nhận xuất xứ đối với hàng hóa nhập khẩu áp dụng trong giai đoạn dịch viêm đường hô hấp cấp gây ra bởi Covid-19 có hiệu từ ngày 23/1/2020 theo Thông tư số 47/2020/TT-BTC của Bộ trưởng Bộ Tài chính; tình trạng tờ khai xuất khẩu tại chỗ khi chưa có tờ khai nhập khẩu tại chỗ đối ứng; tham vấn một lần…
Đồng thời, thông báo một số lưu ý đối với DN trong quá trình làm thủ tục hải quan như: Vi phạm về thời hạn khai, nộp hồ sơ hải quan; vi phạm về thời hạn tái xuất, tái nhập; vi phạm về khai sai.
Theo Chi cục trưởng Chi cục Hải quan KCN Sóng Thần Nguyễn Thanh Bình, thời gian qua, xác định phương châm “Hải quan luôn đồng hành cùng doanh nghiệp” trong hoạt động hợp tác, đối tác với DN, Chi cục đã luôn tạo thuận lợi, giúp đỡ DN ổn định, mở rộng, phát triển sản xuất và kinh doanh, đảm bảo các DN xuất nhập khẩu ngày càng tuân thủ pháp luật về hải quan và thuế xuất nhập khẩu, các vướng mắc được giải quyết thỏa đáng, tạo sự thống nhất cao giữa Hải quan và DN trong quá trình làm thủ tục xuất nhập khẩu.
Nhằm tiếp tục nâng cao hiệu quả đối tác Hải quan – Doanh nghiệp, tại hội nghị Chi cục Hải quan KCN Sóng Thần đã tổ chức lễ ký kết hoạt động thỏa thuận hợp tác với 10 DN tiêu biểu gồm: Công ty Cổ phần Tập đoàn Hoa Sen, Công ty Cổ phần Tôn Đông Á, Công ty Cổ phần Đầu tư Thái Bình, Công ty TNHH Perfetti Van Mele VN, Công ty Cổ phần Thực phẩm Á Châu, Công ty TNHH Highland Dragon, Công ty TNHH Việt Trang, Công ty TNHH Nan Pao Resin, Công ty Cổ phần Thép Nam Kim, Công ty TNHH Scancom Việt Nam.
Ngoài ra, tại hội nghị, Chi cục Hải quan KCN Sóng Thần đã giải đáp thỏa đáng một số vướng mắc của DN liên quan đến thủ tục, giấy phép xuất găng tay, nước rửa tay sát khuẩn, khẩu trang, đồ bảo hộ y tế; tờ khai qua khu vực giám sát; C/O điện tử của những quốc gia được ưu đãi thuế quan khi xuất khẩu hàng hóa…
Read more…
![]() |
| Các doanh nghiệp tham gia ký kết đối tác với Hải quan KCN Sóng Thần |
Đồng thời, thông báo một số lưu ý đối với DN trong quá trình làm thủ tục hải quan như: Vi phạm về thời hạn khai, nộp hồ sơ hải quan; vi phạm về thời hạn tái xuất, tái nhập; vi phạm về khai sai.
Theo Chi cục trưởng Chi cục Hải quan KCN Sóng Thần Nguyễn Thanh Bình, thời gian qua, xác định phương châm “Hải quan luôn đồng hành cùng doanh nghiệp” trong hoạt động hợp tác, đối tác với DN, Chi cục đã luôn tạo thuận lợi, giúp đỡ DN ổn định, mở rộng, phát triển sản xuất và kinh doanh, đảm bảo các DN xuất nhập khẩu ngày càng tuân thủ pháp luật về hải quan và thuế xuất nhập khẩu, các vướng mắc được giải quyết thỏa đáng, tạo sự thống nhất cao giữa Hải quan và DN trong quá trình làm thủ tục xuất nhập khẩu.
Nhằm tiếp tục nâng cao hiệu quả đối tác Hải quan – Doanh nghiệp, tại hội nghị Chi cục Hải quan KCN Sóng Thần đã tổ chức lễ ký kết hoạt động thỏa thuận hợp tác với 10 DN tiêu biểu gồm: Công ty Cổ phần Tập đoàn Hoa Sen, Công ty Cổ phần Tôn Đông Á, Công ty Cổ phần Đầu tư Thái Bình, Công ty TNHH Perfetti Van Mele VN, Công ty Cổ phần Thực phẩm Á Châu, Công ty TNHH Highland Dragon, Công ty TNHH Việt Trang, Công ty TNHH Nan Pao Resin, Công ty Cổ phần Thép Nam Kim, Công ty TNHH Scancom Việt Nam.
Ngoài ra, tại hội nghị, Chi cục Hải quan KCN Sóng Thần đã giải đáp thỏa đáng một số vướng mắc của DN liên quan đến thủ tục, giấy phép xuất găng tay, nước rửa tay sát khuẩn, khẩu trang, đồ bảo hộ y tế; tờ khai qua khu vực giám sát; C/O điện tử của những quốc gia được ưu đãi thuế quan khi xuất khẩu hàng hóa…
Cổng thông tin Hải quan
Thu ngân sách ngành hải quan khó về đích
tháng 6 16, 2020 |Đại dịch COVID-19 đã gây ảnh hưởng không nhỏ đến hoạt động xuất nhập khẩu (XNK) của các DN trên địa bàn tỉnh và tiến độ thu ngân sách của ngành hải quan tỉnh. 6 tháng cuối năm, việc hoàn thành chỉ tiêu thu ngân sách sẽ khó về đích bởi hoạt động giao thương từ các nước có tỷ lệ xuất khẩu lớn như EU, Mỹ, Nhật Bản, Trung Quốc và Hàn Quốc tiếp tục ngưng trệ.
DỰ BÁO SỐ THU CHỈ ĐẠT TỪ 80-86%
Báo cáo từ Cục Hải quan tỉnh cho biết, 6 tháng đầu năm, kim ngạch XNK giảm 14% so với cùng kỳ năm 2019. Nguyên nhân là do dịch COVID-19 vẫn đang diễn biến phức tạp ở hầu hết các quốc gia trên thế giới, dẫn đến ảnh hưởng lớn đến hoạt động XNK. Kéo theo đó, số thu ngân sách của ngành hải quan đạt 7.892 tỷ đồng, chỉ đạt 29% so với chỉ tiêu thu phấn đấu và giảm 11,6% so với số thu cùng kỳ năm 2019. Trong đó, giảm sâu nhất là mặt hàng xăng dầu nhập khẩu (71%); kế đến là máy móc thiết bị nhập khẩu (50%); sắt thép nhập khẩu (7%); dầu thô xuất khẩu (6%)...
Một số Chi cục Hải quan trực thuộc bị ảnh hưởng trực tiếp đến số thu như Chi cục Hải quan cửa khẩu cảng Cái Mép. 6 tháng đầu năm, lượng hàng về làm thủ tục tại các đơn vị ngày càng giảm, kéo theo đó số thu ngân sách cũng giảm khoảng 50% so với cùng kỳ năm 2019. Còn tại Chi cục Hải quan cửa khẩu cảng Vũng Tàu, một trong những mặt hàng chiếm số thu lớn nhất tại đơn vị là dầu thô xuất khẩu giảm mạnh. Tính đến hết tháng 5, số thu từ mặt hàng dầu thô xuất khẩu của đơn vị chỉ đạt trên 53 tỷ đồng, giảm 50% so với tháng 4 và giảm 7 lần so với cùng kỳ năm 2019.
Theo Cục Hải quan tỉnh, với tình hình nêu trên, dự báo số thu NSNN của ngành hải quan đến cuối năm đạt chỉ từ 16.100-17.300 tỷ đồng, đạt 80%-86% so với chỉ tiêu pháp lệnh được giao.
ĐỒNG HÀNH, HỖ TRỢ DN
Trước bối cảnh sụt giảm ngân sách, để hoàn thành số thu ngân sách Nhà nước được giao, Tổng cục Hải quan vừa ban hành Chỉ thị 1040/CT-TCHQ về việc thực hiện đồng bộ, quyết liệt các giải pháp tạo thuận lợi thương mại, nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước, chống thất thu trong triển khai nhiệm vụ thu ngân sách. Theo đó, Cục Hải quan tỉnh yêu cầu các đơn vị trực thuộc thường xuyên đối thoại với DN để tháo gỡ kịp thời khó khăn, vướng mắc phát sinh thuộc thẩm quyền liên quan đến thủ tục hải quan, chính sách thuế, công tác quản lý thuế, chế độ hoàn thuế, miễn thuế; rút ngắn thời gian thông quan hàng hóa. Cơ quan hải quan cũng chủ động giới thiệu các đối tác trong nước cung cấp nguyên liệu để thay thế trong trường hợp thị trường nước ngoài khan hiếm…
Ông Trần Công Tuấn, Chi cục trưởng Chi cục Hải quan cửa khẩu cảng Cái Mép cho biết: Từ đầu năm đến nay, đơn vị tiếp nhận và xử lý khoảng 650 bộ hồ sơ qua hệ thống dịch vụ công trực tuyến, góp phần giảm thời gian và chi phí cho DN. Đồng thời, để tránh ách tắc hàng hóa ở cửa khẩu, đơn vị thường xuyên bố trí cán bộ, công chức giỏi chuyên môn, nghiệp vụ để giải quyết thủ tục hải quan với phương châm “đến sớm - đi nhanh - không chờ đợi”.
“Tới đây, các Chi cục Hải quan cửa khẩu tiếp tục chủ động nắm bắt thông tin các dự án đầu tư mới trên địa bàn để tư vấn cho DN; đẩy mạnh ứng dụng dịch vụ công trực tuyến vào thực hiện thủ tục hải quan điện tử và phối hợp với KBNN, ngân hàng để thu thuế điện tử 24/7, bảo đảm thông quan hàng hóa nhanh chóng cho các DN; tạo điều kiện thuận lợi để các DN thực hiện thủ tục hoàn thuế, miễn thuế, gia hạn nộp thuế”, ông Bùi Sỹ Đức, Phó Cục trưởng Cục Hải quan tỉnh thông tin thêm.
Read more…
![]() |
| DN làm thủ tục thông quan hàng hóa tại Chi cục Hải quan cửa khẩu Cảng Phú Mỹ. |
Báo cáo từ Cục Hải quan tỉnh cho biết, 6 tháng đầu năm, kim ngạch XNK giảm 14% so với cùng kỳ năm 2019. Nguyên nhân là do dịch COVID-19 vẫn đang diễn biến phức tạp ở hầu hết các quốc gia trên thế giới, dẫn đến ảnh hưởng lớn đến hoạt động XNK. Kéo theo đó, số thu ngân sách của ngành hải quan đạt 7.892 tỷ đồng, chỉ đạt 29% so với chỉ tiêu thu phấn đấu và giảm 11,6% so với số thu cùng kỳ năm 2019. Trong đó, giảm sâu nhất là mặt hàng xăng dầu nhập khẩu (71%); kế đến là máy móc thiết bị nhập khẩu (50%); sắt thép nhập khẩu (7%); dầu thô xuất khẩu (6%)...
Một số Chi cục Hải quan trực thuộc bị ảnh hưởng trực tiếp đến số thu như Chi cục Hải quan cửa khẩu cảng Cái Mép. 6 tháng đầu năm, lượng hàng về làm thủ tục tại các đơn vị ngày càng giảm, kéo theo đó số thu ngân sách cũng giảm khoảng 50% so với cùng kỳ năm 2019. Còn tại Chi cục Hải quan cửa khẩu cảng Vũng Tàu, một trong những mặt hàng chiếm số thu lớn nhất tại đơn vị là dầu thô xuất khẩu giảm mạnh. Tính đến hết tháng 5, số thu từ mặt hàng dầu thô xuất khẩu của đơn vị chỉ đạt trên 53 tỷ đồng, giảm 50% so với tháng 4 và giảm 7 lần so với cùng kỳ năm 2019.
![]() |
| Nhân viên Chi cục hải quan cửa khẩu Cảng Cái Mép kiểm tra hàng container tại Cảng TCIT. |
ĐỒNG HÀNH, HỖ TRỢ DN
Trước bối cảnh sụt giảm ngân sách, để hoàn thành số thu ngân sách Nhà nước được giao, Tổng cục Hải quan vừa ban hành Chỉ thị 1040/CT-TCHQ về việc thực hiện đồng bộ, quyết liệt các giải pháp tạo thuận lợi thương mại, nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước, chống thất thu trong triển khai nhiệm vụ thu ngân sách. Theo đó, Cục Hải quan tỉnh yêu cầu các đơn vị trực thuộc thường xuyên đối thoại với DN để tháo gỡ kịp thời khó khăn, vướng mắc phát sinh thuộc thẩm quyền liên quan đến thủ tục hải quan, chính sách thuế, công tác quản lý thuế, chế độ hoàn thuế, miễn thuế; rút ngắn thời gian thông quan hàng hóa. Cơ quan hải quan cũng chủ động giới thiệu các đối tác trong nước cung cấp nguyên liệu để thay thế trong trường hợp thị trường nước ngoài khan hiếm…
Ông Trần Công Tuấn, Chi cục trưởng Chi cục Hải quan cửa khẩu cảng Cái Mép cho biết: Từ đầu năm đến nay, đơn vị tiếp nhận và xử lý khoảng 650 bộ hồ sơ qua hệ thống dịch vụ công trực tuyến, góp phần giảm thời gian và chi phí cho DN. Đồng thời, để tránh ách tắc hàng hóa ở cửa khẩu, đơn vị thường xuyên bố trí cán bộ, công chức giỏi chuyên môn, nghiệp vụ để giải quyết thủ tục hải quan với phương châm “đến sớm - đi nhanh - không chờ đợi”.
“Tới đây, các Chi cục Hải quan cửa khẩu tiếp tục chủ động nắm bắt thông tin các dự án đầu tư mới trên địa bàn để tư vấn cho DN; đẩy mạnh ứng dụng dịch vụ công trực tuyến vào thực hiện thủ tục hải quan điện tử và phối hợp với KBNN, ngân hàng để thu thuế điện tử 24/7, bảo đảm thông quan hàng hóa nhanh chóng cho các DN; tạo điều kiện thuận lợi để các DN thực hiện thủ tục hoàn thuế, miễn thuế, gia hạn nộp thuế”, ông Bùi Sỹ Đức, Phó Cục trưởng Cục Hải quan tỉnh thông tin thêm.
Tin tức
BHXH Việt Nam lập kế hoạch cắt giảm, đơn giản hóa TTHC cho DN giai đoạn 2020-2025
tháng 6 11, 2020 |BHXH Việt Nam vừa ban hành Kế hoạch số 1829/KH-BHXH thực hiện Nghị quyết số 68/NQ-CP ngày 12/5/2020 của Chính phủ về Chương trình cắt giảm, đơn giản hóa quy định liên quan đến hoạt động kinh doanh giai đoạn 2020-2025.
Cụ thể, theo tinh thần của Nghị quyết, BHXH Việt Nam ban hành Kế hoạch thực hiện hàng năm (từ năm 2020 đến năm 2025) đảm bảo mục tiêu sau: Cắt giảm, đơn giản hóa những quy định không cần thiết, không hợp lý, không hợp pháp, là rào cản, gây khó khăn cho hoạt động kinh doanh của DN, người dân trong các văn bản hiện hành; giảm thời gian và chi phí cho DN và người dân trong việc tuân thủ các quy định liên quan đến hoạt động kinh doanh.
Kế hoạch của BHXH Việt Nam sẽ xác định cụ thể nội dung công việc, thời gian, sản phẩm dự kiến hoàn thành và trách nhiệm của các đơn vị liên quan trong triển khai thực hiện. Đồng thời, lượng hóa được lợi ích mang lại cho DN, người dân và xã hội, bảo đảm mục tiêu quản lý nhà nước. Theo đó, sẽ có 4 nhiệm vụ cụ thể được BHXH Việt Nam đặt ra trong Kế hoạch này, cụ thể:
Trong tháng 6/2020, BHXH Việt Nam sẽ xây dựng Kế hoạch và chuẩn bị thực hiện. Đặc biệt sẽ tiếp nhận, tổng hợp các phản ánh, kiến nghị của DN, người dân về các quy định không còn phù hợp, gây khó khăn cho hoạt động kinh doanh thông qua Cổng Dịch vụ công quốc gia; qua đối thoại, tham vấn.
Triển khai thống kê, cập nhật đầy đủ dữ liệu và tính chi phí tuân thủ quy định liên quan đến hoạt động kinh doanh thuộc phạm vi quản lý của BHXH Việt Nam. Trước 31/10/2020 sẽ tổng hợp, báo cáo Văn phòng Chính phủ kết quả thống kê, tính chi phí tuân thủ liên quan đến hoạt động kinh doanh năm 2020.
Triển khai rà soát, đánh giá, tính chi phí tuân thủ sau đơn giản hóa; đề xuất phương án cắt giảm, đơn giản hóa quy định liên quan đến hoạt động kinh doanh của DN.
Sau khi phương án cắt giảm, đơn giản hóa được lãnh đạo Ngành phê duyệt, các đơn vị nghiệp vụ của BHXH Việt Nam theo chức năng, nhiệm vụ được giao, sẽ thực thi phương án cắt giảm, đơn giản hóa quy định liên quan đến hoạt động kinh doanh của DN. Kết quả cắt giảm, đơn giản hóa quy định liên quan đến hoạt động kinh doanh này sẽ được công bố, công khai trên Cổng Thông điện tử Chính phủ, Cổng Thông tin điện tử BHXH Việt Nam và Cổng Thông tin điện tử BHXH các tỉnh, thành phố.
Read more…
Cụ thể, theo tinh thần của Nghị quyết, BHXH Việt Nam ban hành Kế hoạch thực hiện hàng năm (từ năm 2020 đến năm 2025) đảm bảo mục tiêu sau: Cắt giảm, đơn giản hóa những quy định không cần thiết, không hợp lý, không hợp pháp, là rào cản, gây khó khăn cho hoạt động kinh doanh của DN, người dân trong các văn bản hiện hành; giảm thời gian và chi phí cho DN và người dân trong việc tuân thủ các quy định liên quan đến hoạt động kinh doanh.
![]() |
| Ảnh minh hoạ |
Trong tháng 6/2020, BHXH Việt Nam sẽ xây dựng Kế hoạch và chuẩn bị thực hiện. Đặc biệt sẽ tiếp nhận, tổng hợp các phản ánh, kiến nghị của DN, người dân về các quy định không còn phù hợp, gây khó khăn cho hoạt động kinh doanh thông qua Cổng Dịch vụ công quốc gia; qua đối thoại, tham vấn.
Triển khai thống kê, cập nhật đầy đủ dữ liệu và tính chi phí tuân thủ quy định liên quan đến hoạt động kinh doanh thuộc phạm vi quản lý của BHXH Việt Nam. Trước 31/10/2020 sẽ tổng hợp, báo cáo Văn phòng Chính phủ kết quả thống kê, tính chi phí tuân thủ liên quan đến hoạt động kinh doanh năm 2020.
Triển khai rà soát, đánh giá, tính chi phí tuân thủ sau đơn giản hóa; đề xuất phương án cắt giảm, đơn giản hóa quy định liên quan đến hoạt động kinh doanh của DN.
Sau khi phương án cắt giảm, đơn giản hóa được lãnh đạo Ngành phê duyệt, các đơn vị nghiệp vụ của BHXH Việt Nam theo chức năng, nhiệm vụ được giao, sẽ thực thi phương án cắt giảm, đơn giản hóa quy định liên quan đến hoạt động kinh doanh của DN. Kết quả cắt giảm, đơn giản hóa quy định liên quan đến hoạt động kinh doanh này sẽ được công bố, công khai trên Cổng Thông điện tử Chính phủ, Cổng Thông tin điện tử BHXH Việt Nam và Cổng Thông tin điện tử BHXH các tỉnh, thành phố.
Theo Tạp chí BHXH
Doanh nghiệp muốn giảm mức đóng vào quỹ tai nạn lao động cần thủ tục gì?
tháng 6 04, 2020 |Từ ngày 15.7, doanh nghiệp có đủ điều kiện được giảm mức bảo hiểm vào Quỹ bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp sẽ được giải quyết trong vòng 30 ngày.
Giảm mức đóng BHXH từ 15.7
Theo quy định tại Nghị định 58/2020/NĐ-CP về mức đóng bảo hiểm xã hội (BHXH) bắt buộc vào Quỹ bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, áp dụng từ ngày 15.7.2020, mức đóng bình thường bằng 0,5% quỹ tiền lương làm căn cứ đóng BHXH được áp dụng đối với người lao động là cán bộ, công chức, viên chức và người thuộc lực lượng vũ trang thuộc các cơ quan của Đảng, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội, quân đội, công an, đơn vị sự nghiệp công lập sử dụng ngân sách nhà nước.
Tuy nhiên, Nghị định cũng quy định giảm mức đóng BHXH bắt buộc, bằng 0,3% quỹ tiền lương (thay vì đóng 0,5% như mức bình thường) đối với doanh nghiệp có đủ các điều kiện sau:
Là doanh nghiệp hoạt động trong các ngành nghề có nguy cơ cao về tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp.
Trong vòng 3 năm liền trước năm đề xuất không bị xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức phạt tiền, không bị truy cứu trách nhiệm hình sự liên quan đến an toàn, vệ sinh lao động, BHXH.
Tần suất tai nạn lao động của năm liền kề trước năm đề xuất phải giảm từ 15% trở lên so với tần suất tai nạn lao động trung bình của 3 năm liền kề trước năm đề xuất hoặc không để xảy ra tai nạn lao động tính từ 3 năm liền kề trước năm đề xuất.
Gửi trả kết quả trong 30 ngày
Nghị định quy định thủ tục đề xuất doanh nghiệp xin giảm mức đóng BHXH bắt buộc vào Quỹ bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp thực hiện theo 3 bước như sau:
Bước 1 (chuẩn bị hồ sơ đề xuất): Doanh nghiệp đáp ứng điều kiện chuẩn bị một bộ hồ sơ đề xuất bao gồm các loại giấy tờ: văn bản đề nghị (theo mẫu) tại Phụ lục ban hành kèm theo Nghị định 58; bản sao chứng thực Báo cáo đánh giá công tác an toàn, vệ sinh lao động và giảm tần suất tai nạn lao động được thực hiện bởi tổ chức đánh giá an toàn, vệ sinh lao động.
Bước 2 (nộp hồ sơ đề xuất): Doanh nghiệp gửi 1 bộ hồ sơ đề xuất (đã chuẩn bị ở Bước 1) về Bộ LĐ-TB-XH thông qua một trong các hình thức: nộp trực tiếp; nộp trực tuyến hoặc nộp qua đường bưu điện.
Bước 3 (nhận kết quả): Trong thời hạn 30 ngày làm việc, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ của người sử dụng lao động, Bộ LĐ-TB-XH sẽ gửi hoặc trả kết quả trực tiếp hoặc trực tuyến hoặc qua đường bưu điện cho doanh nghiệp và cơ quan BHXH để tổ chức thực hiện.
Trường hợp không đủ điều kiện áp dụng mức đóng thấp hơn mức đóng bình thường thì phải trả lời cho người sử dụng lao động và nêu rõ lý do.
BHXH Việt Nam, lưu ý nếu được chấp nhận thì thời hạn thực hiện mức đóng thấp hơn là 36 tháng, kể từ tháng quyết định áp dụng mức đóng có hiệu lực.
Trong vòng 60 ngày trước ngày hết hạn áp dụng mức đóng thấp hơn, nếu người sử dụng lao động vẫn có nhu cầu thì lập tiếp 1 bộ hồ sơ và thực hiện đề nghị theo trình tự nêu trên.
Đối với người sử dụng lao động là doanh nghiệp, hợp tác xã, hộ kinh doanh cá thể, tổ hợp tác hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp, diêm nghiệp trả lương theo sản phẩm, theo khoán thì mức đóng hằng tháng tương ứng theo điều kiện từng trường hợp quy định ở trên; phương thức đóng được thực hiện hằng tháng, 3 tháng hoặc 6 tháng một lần.
Dù đóng với mức thấp hơn, quyền lợi liên quan đến chế độ tai nạn lao động của người lao động vẫn không thay đổi.
Read more…
![]() |
| Doanh nghiệp làm việc trong cái ngành nghề nguy cơ cao được giảm mức đóng vào quỹ tai nạn lao động |
Theo quy định tại Nghị định 58/2020/NĐ-CP về mức đóng bảo hiểm xã hội (BHXH) bắt buộc vào Quỹ bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, áp dụng từ ngày 15.7.2020, mức đóng bình thường bằng 0,5% quỹ tiền lương làm căn cứ đóng BHXH được áp dụng đối với người lao động là cán bộ, công chức, viên chức và người thuộc lực lượng vũ trang thuộc các cơ quan của Đảng, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội, quân đội, công an, đơn vị sự nghiệp công lập sử dụng ngân sách nhà nước.
Tuy nhiên, Nghị định cũng quy định giảm mức đóng BHXH bắt buộc, bằng 0,3% quỹ tiền lương (thay vì đóng 0,5% như mức bình thường) đối với doanh nghiệp có đủ các điều kiện sau:
Là doanh nghiệp hoạt động trong các ngành nghề có nguy cơ cao về tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp.
Trong vòng 3 năm liền trước năm đề xuất không bị xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức phạt tiền, không bị truy cứu trách nhiệm hình sự liên quan đến an toàn, vệ sinh lao động, BHXH.
Tần suất tai nạn lao động của năm liền kề trước năm đề xuất phải giảm từ 15% trở lên so với tần suất tai nạn lao động trung bình của 3 năm liền kề trước năm đề xuất hoặc không để xảy ra tai nạn lao động tính từ 3 năm liền kề trước năm đề xuất.
Gửi trả kết quả trong 30 ngày
Nghị định quy định thủ tục đề xuất doanh nghiệp xin giảm mức đóng BHXH bắt buộc vào Quỹ bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp thực hiện theo 3 bước như sau:
Bước 1 (chuẩn bị hồ sơ đề xuất): Doanh nghiệp đáp ứng điều kiện chuẩn bị một bộ hồ sơ đề xuất bao gồm các loại giấy tờ: văn bản đề nghị (theo mẫu) tại Phụ lục ban hành kèm theo Nghị định 58; bản sao chứng thực Báo cáo đánh giá công tác an toàn, vệ sinh lao động và giảm tần suất tai nạn lao động được thực hiện bởi tổ chức đánh giá an toàn, vệ sinh lao động.
Bước 2 (nộp hồ sơ đề xuất): Doanh nghiệp gửi 1 bộ hồ sơ đề xuất (đã chuẩn bị ở Bước 1) về Bộ LĐ-TB-XH thông qua một trong các hình thức: nộp trực tiếp; nộp trực tuyến hoặc nộp qua đường bưu điện.
Bước 3 (nhận kết quả): Trong thời hạn 30 ngày làm việc, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ của người sử dụng lao động, Bộ LĐ-TB-XH sẽ gửi hoặc trả kết quả trực tiếp hoặc trực tuyến hoặc qua đường bưu điện cho doanh nghiệp và cơ quan BHXH để tổ chức thực hiện.
Trường hợp không đủ điều kiện áp dụng mức đóng thấp hơn mức đóng bình thường thì phải trả lời cho người sử dụng lao động và nêu rõ lý do.
BHXH Việt Nam, lưu ý nếu được chấp nhận thì thời hạn thực hiện mức đóng thấp hơn là 36 tháng, kể từ tháng quyết định áp dụng mức đóng có hiệu lực.
Trong vòng 60 ngày trước ngày hết hạn áp dụng mức đóng thấp hơn, nếu người sử dụng lao động vẫn có nhu cầu thì lập tiếp 1 bộ hồ sơ và thực hiện đề nghị theo trình tự nêu trên.
Đối với người sử dụng lao động là doanh nghiệp, hợp tác xã, hộ kinh doanh cá thể, tổ hợp tác hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp, diêm nghiệp trả lương theo sản phẩm, theo khoán thì mức đóng hằng tháng tương ứng theo điều kiện từng trường hợp quy định ở trên; phương thức đóng được thực hiện hằng tháng, 3 tháng hoặc 6 tháng một lần.
Dù đóng với mức thấp hơn, quyền lợi liên quan đến chế độ tai nạn lao động của người lao động vẫn không thay đổi.
Thủ tục về BHXH, BHYT chiếm tần suất thực hiện lớn, hiệu quả trên Cổng Dịch vụ công Quốc gia
tháng 5 20, 2020 |Được khai trương từ ngày 09/12/2019, đến nay, Cổng Dịch vụ công Quốc gia đã có những kết quả tích cực, thể hiện được mục tiêu Chính phủ phục vụ người dân, doanh nghiệp, cụ thể đã có trên 140.000 tài khoản đăng ký, trên 35 triệu lượt truy cập, trên 7,3 triệu hồ sơ đồng bộ trạng thái, trên 68.000 hồ sơ được thực hiện qua Cổng Dịch vụ công Quốc gia.
Đây là thông tin tại Hội nghị trực tuyến “Giới thiệu Cổng Dịch vụ công Quốc gia và các lợi ích dành cho doanh nghiệp” do Hội đồng tư vấn cải cách thủ tục hành chính của Thủ tướng Chính phủ phối hợp với Ngân hàng Thế giới ngày 19/5.
Phát biểu tại hội nghị, Bộ trưởng, Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ Mai Tiến Dũng cho biết, việc thực hiện thủ tục hành chính trên môi trường điện tử đem lại lợi ích rất lớn cho người dân, doanh nghiệp và Cổng Dịch vụ công Quốc gia là “kênh” hữu hiệu nhất để “điện tử hóa” thủ tục hành chính.
Được khai trương từ ngày 9/12/2019, đến nay, Cổng Dịch vụ công Quốc gia đã có những kết quả tích cực, thể hiện được mục tiêu Chính phủ phục vụ người dân, doanh nghiệp, cụ thể đã có trên 140.000 tài khoản đăng ký, trên 35 triệu lượt truy cập, trên 7,3 triệu hồ sơ đồng bộ trạng thái, trên 68.000 hồ sơ được thực hiện qua Cổng Dịch vụ công Quốc gia.
Hệ thống cũng tiếp nhận hỗ trợ trên 11.000 cuộc gọi; tiếp nhận trên 5.600 phản ánh, kiến nghị của người dân, doanh nghiệp; đã tích hợp được 395 dịch vụ công trực tuyến lên Cổng Dịch vụ công Quốc gia trong đó có 232 dịch vụ công dành cho doanh nghiệp.
Tổng chi phí xã hội tiết kiệm được khi thực hiện dịch vụ công trực tuyến là khoảng 6.490 tỷ đồng/năm, trong đó, riêng Cổng Dịch vụ công Quốc gia đóng góp 3.036 tỷ đồng/năm.
Theo báo cáo của Văn phòng Chính phủ, sau 6 tháng triển khai Cổng Dịch vụ công Quốc gia, từ 8 nhóm dịch vụ ban đầu, đến nay đã tăng lên 389 dịch vụ công trực tuyến (160 cho công dân, 229 cho doanh nghiệp); cung cấp chức năng thanh toán trực truyến để người dân, doanh nghiệp nộp các nghĩa vụ tài chính liên quan, nhiều dịch vụ công được doanh nghiệp quan tâm thực hiện như thông báo hoạt động khuyến mại, cấp điện, nộp thuế, phí, lệ phí, kê khai, nộp thuế điện tử, đề nghị gia hạn thuế...
Một số nhóm thủ tục hành chính có tần suất thực hiện lớn đã được tích hợp lên cổng và phục vụ hiệu quả cho doanh nghiệp như: Một số thủ tục mảng BHXH, BHYT; nhóm thủ tục về đăng kí/thông báo khuyến mãi của doanh nghiệp; nhóm thủ tục xin cấp chứng nhận xuất xứ hàng hóa (C/O); nộp phạt vi phạm hành chính lĩnh vực giao thông; nhóm thủ tục thuế… và nhiều thủ tục cụ thể khác.
Bắt đầu từ ngày 12/5, Cổng Dịch vụ công Quốc gia cung cấp thêm 6 dịch vụ công hỗ trợ cho người dân, doanh nghiệp gặp khó khăn do đại dịch Covid-19. Theo đó, 6 dịch vụ công được cung cấp là: Hỗ trợ người lao động tạm hoãn hợp đồng lao động, nghỉ việc không hưởng lương; Hỗ trợ người sử dụng lao động vay vốn để trả lương ngừng việc đối với người lao động; Kê khai gia hạn nộp thuế doanh nghiệp; Kê khai gia hạn nộp thuế cá nhân; Tạm dừng đóng vào quỹ hưu trí tử tuất; Tiếp nhận, xử lý phản ánh, kiến nghị trong thực hiện hỗ trợ người dân, doanh nghiệp gặp khó khăn do đại dịch Covid-19.
Read more…
Đây là thông tin tại Hội nghị trực tuyến “Giới thiệu Cổng Dịch vụ công Quốc gia và các lợi ích dành cho doanh nghiệp” do Hội đồng tư vấn cải cách thủ tục hành chính của Thủ tướng Chính phủ phối hợp với Ngân hàng Thế giới ngày 19/5.
Phát biểu tại hội nghị, Bộ trưởng, Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ Mai Tiến Dũng cho biết, việc thực hiện thủ tục hành chính trên môi trường điện tử đem lại lợi ích rất lớn cho người dân, doanh nghiệp và Cổng Dịch vụ công Quốc gia là “kênh” hữu hiệu nhất để “điện tử hóa” thủ tục hành chính.
Được khai trương từ ngày 9/12/2019, đến nay, Cổng Dịch vụ công Quốc gia đã có những kết quả tích cực, thể hiện được mục tiêu Chính phủ phục vụ người dân, doanh nghiệp, cụ thể đã có trên 140.000 tài khoản đăng ký, trên 35 triệu lượt truy cập, trên 7,3 triệu hồ sơ đồng bộ trạng thái, trên 68.000 hồ sơ được thực hiện qua Cổng Dịch vụ công Quốc gia.
Hệ thống cũng tiếp nhận hỗ trợ trên 11.000 cuộc gọi; tiếp nhận trên 5.600 phản ánh, kiến nghị của người dân, doanh nghiệp; đã tích hợp được 395 dịch vụ công trực tuyến lên Cổng Dịch vụ công Quốc gia trong đó có 232 dịch vụ công dành cho doanh nghiệp.
Tổng chi phí xã hội tiết kiệm được khi thực hiện dịch vụ công trực tuyến là khoảng 6.490 tỷ đồng/năm, trong đó, riêng Cổng Dịch vụ công Quốc gia đóng góp 3.036 tỷ đồng/năm.
Theo báo cáo của Văn phòng Chính phủ, sau 6 tháng triển khai Cổng Dịch vụ công Quốc gia, từ 8 nhóm dịch vụ ban đầu, đến nay đã tăng lên 389 dịch vụ công trực tuyến (160 cho công dân, 229 cho doanh nghiệp); cung cấp chức năng thanh toán trực truyến để người dân, doanh nghiệp nộp các nghĩa vụ tài chính liên quan, nhiều dịch vụ công được doanh nghiệp quan tâm thực hiện như thông báo hoạt động khuyến mại, cấp điện, nộp thuế, phí, lệ phí, kê khai, nộp thuế điện tử, đề nghị gia hạn thuế...
Một số nhóm thủ tục hành chính có tần suất thực hiện lớn đã được tích hợp lên cổng và phục vụ hiệu quả cho doanh nghiệp như: Một số thủ tục mảng BHXH, BHYT; nhóm thủ tục về đăng kí/thông báo khuyến mãi của doanh nghiệp; nhóm thủ tục xin cấp chứng nhận xuất xứ hàng hóa (C/O); nộp phạt vi phạm hành chính lĩnh vực giao thông; nhóm thủ tục thuế… và nhiều thủ tục cụ thể khác.
Bắt đầu từ ngày 12/5, Cổng Dịch vụ công Quốc gia cung cấp thêm 6 dịch vụ công hỗ trợ cho người dân, doanh nghiệp gặp khó khăn do đại dịch Covid-19. Theo đó, 6 dịch vụ công được cung cấp là: Hỗ trợ người lao động tạm hoãn hợp đồng lao động, nghỉ việc không hưởng lương; Hỗ trợ người sử dụng lao động vay vốn để trả lương ngừng việc đối với người lao động; Kê khai gia hạn nộp thuế doanh nghiệp; Kê khai gia hạn nộp thuế cá nhân; Tạm dừng đóng vào quỹ hưu trí tử tuất; Tiếp nhận, xử lý phản ánh, kiến nghị trong thực hiện hỗ trợ người dân, doanh nghiệp gặp khó khăn do đại dịch Covid-19.
Tin tức
173 doanh nghiệp đã được tạm dừng đóng quỹ hưu trí, tử tuất
tháng 5 11, 2020 |Tính đến ngày 15/4/2020, toàn quốc có 173 đơn vị doanh nghiệp với 20.908 lao động đã được thực hiện tạm dừng đóng BHXH vào quỹ hưu trí và tử tuất; tổng số tiền tạm dừng đóng trên 91 tỷ đồng.
Đây thông tin tại Hội nghị đánh giá tình hình thực hiện nhiệm vụ 4 tháng đầu năm 2020 và đề xuất, điều chỉnh kế hoạch, dự toán chỉ tiêu, nhiệm vụ của BHXH Việt Nam sáng 11/5.
Phó Tổng Giám đốc BHXH Việt Nam Đào Việt Ánh chủ trì hội nghị. Tham dự có các Phó Tổng Giám đốc BHXH Việt Nam: Nguyễn Đình Khương, Trần Đình Liệu, Lê Hùng Sơn; lãnh đạo các đơn vị trực thuộc liên quan.
Báo cáo tại hội nghị, đại diện Vụ Kế hoạch - Đầu tư (BHXH Việt Nam) đánh giá, do dịch Covid-19 đang diễn biến hết sức phức tạp, ảnh hưởng đến mọi mặt đời sống nhân dân và tình hình kinh tế của đất nước. BHXH Việt Nam với chức năng tổ chức thực hiện các chế độ, chính sách BHXH, BHYT cũng đang chịu ảnh hưởng trực tiếp, gián tiếp tới các kết quả thực hiện mục tiêu, nhiệm vụ của Ngành.
Cụ thể: trong điều kiện bình thường, số lao động tham gia BHXH sẽ phát triển tăng thêm khoảng từ 5 - 6% so với năm trước liền kề. Tuy nhiên, tính đến 30/4/2020, toàn quốc, tổng số người tham gia BHXH bắt buộc là 14,419 triệu người, giảm 421.000 người so với tháng 3/2020 và giảm 780.000 người so với năm 2019. Số người tham gia BHXH tự nguyện cũng sẽ khó đạt được mức tăng như năm 2019. Số tiền nợ đóng BHXH, BHYT, BH thất nghiệp ghi nhận mức tăng nhẹ trong 3 tháng đầu năm 2020. Nếu tình hình dịch bệnh tiếp tục diễn biến phức tạp và kéo dài số tiền nợ BHXH, BHYT, BH thất nghiệp sẽ tiếp tục gia tăng so với cùng kỳ năm 2019... Bên cạnh đó, số người hưởng trợ cấp thất nghiệp, BHXH một lần cũng có sự gia tăng khi nhiều người lao động mất việc làm, gặp khó khăn trong cuộc sống...
Hỗ trợ doanh nghiệp, người lao động, thời gian qua, BHXH Việt Nam đã tham mưu, phối hợp cùng các bộ, ngành triển khai nhiều giải pháp để phục vụ tốt hơn, chung tay phòng, chống dịch bệnh như: Thực hiện chi trả tại nhà, chi trả gộp thời gian; chi trả BHYT với người nhiễm, cách ly Covid-19; đẩy mạnh giao dịch điện tử, qua hệ thống bưu chính hạn chế tiếp xúc trực tiếp... Đặc biệt, BHXH Việt Nam đã thực hiện việc tạm dừng đóng BHXH vào quỹ hưu trí, tử tuất đối với các doanh nghiệp bị ảnh hưởng bởi dịch Covid-19. Theo báo cáo sơ bộ của BHXH các tỉnh, thành phố, đến ngày 15/4/2020 toàn quốc có 173 đơn vị doanh nghiệp với 20.908 lao động đã được thực hiện tạm dừng đóng BHXH vào quỹ hưu trí và tử tuất, số tiền tạm dừng đóng của các đơn vị trên 91 tỷ đồng…
Thời gian tới, trước tình hình dịch Covid-19 ở nước ta đã cơ bản được khống chế, bước vào giai đoạn bình thường mới nhưng những tác động, hậu quả còn rất nặng nề, BHXH Việt Nam đã đưa ra một số định hướng, kế hoạch trong triển khai, thực hiện nhiệm vụ năm 2020.
Tại hội nghị, lãnh đạo Ngành và lãnh đạo các đơn vị chuyên môn cơ bản thống nhất với 2 kịch bản dự báo gồm: Kịch bản 1 - Dịch Covid-19 được khống chế tại Việt Nam vào tháng 6/2020 và khống chế trên thế giới vào tháng 8/2020. Kịch bản 2 - Dịch Covid-19 được khống chế tại Việt Nam vào tháng 6/2020 và khống chế trên thế giới vào tháng 10/2020.
Với mỗi kịch bản, BHXH Việt Nam đều có những điều chỉnh cụ thể về chỉ tiêu thu; chi trả, giải quyết chế độ; phát triển số người tham gia BHXH, BHYT, BH thất nghiệp, BHXH tự nguyện; đầu tư quỹ…
Kết luận hội nghị, Phó Tổng Giám đốc Đào Việt Ánh yêu cầu, các đơn vị nghiệp vụ cần thống kê, tổng hợp, phân tích kỹ hơn các số liệu, tình hình thực tế để xây dựng, hoàn thiện các kịch bản. Mục tiêu chung là tập trung đưa ra các giải pháp để toàn Ngành hoàn thành các chỉ tiêu về phát triển người tham gia BHXH, BHYT. Đặc biệt, năm 2020, toàn quốc phải đạt trên 90% dân số tham gia BHYT - đây là chỉ tiêu bắt buộc, Ngành BHXH quyết tâm thực hiện. Bên cạnh đó, số người tham gia BHXH phải tính toán, phấn đấu dựa trên các chỉ tiêu của Nghị quyết số 28/NQ-TW; trong đó, số người tham gia BHXH tự nguyện phải tăng trưởng so với năm 2019…
Read more…
Đây thông tin tại Hội nghị đánh giá tình hình thực hiện nhiệm vụ 4 tháng đầu năm 2020 và đề xuất, điều chỉnh kế hoạch, dự toán chỉ tiêu, nhiệm vụ của BHXH Việt Nam sáng 11/5.
Phó Tổng Giám đốc BHXH Việt Nam Đào Việt Ánh chủ trì hội nghị. Tham dự có các Phó Tổng Giám đốc BHXH Việt Nam: Nguyễn Đình Khương, Trần Đình Liệu, Lê Hùng Sơn; lãnh đạo các đơn vị trực thuộc liên quan.
![]() |
| Toàn cảnh hội nghị |
Cụ thể: trong điều kiện bình thường, số lao động tham gia BHXH sẽ phát triển tăng thêm khoảng từ 5 - 6% so với năm trước liền kề. Tuy nhiên, tính đến 30/4/2020, toàn quốc, tổng số người tham gia BHXH bắt buộc là 14,419 triệu người, giảm 421.000 người so với tháng 3/2020 và giảm 780.000 người so với năm 2019. Số người tham gia BHXH tự nguyện cũng sẽ khó đạt được mức tăng như năm 2019. Số tiền nợ đóng BHXH, BHYT, BH thất nghiệp ghi nhận mức tăng nhẹ trong 3 tháng đầu năm 2020. Nếu tình hình dịch bệnh tiếp tục diễn biến phức tạp và kéo dài số tiền nợ BHXH, BHYT, BH thất nghiệp sẽ tiếp tục gia tăng so với cùng kỳ năm 2019... Bên cạnh đó, số người hưởng trợ cấp thất nghiệp, BHXH một lần cũng có sự gia tăng khi nhiều người lao động mất việc làm, gặp khó khăn trong cuộc sống...
Hỗ trợ doanh nghiệp, người lao động, thời gian qua, BHXH Việt Nam đã tham mưu, phối hợp cùng các bộ, ngành triển khai nhiều giải pháp để phục vụ tốt hơn, chung tay phòng, chống dịch bệnh như: Thực hiện chi trả tại nhà, chi trả gộp thời gian; chi trả BHYT với người nhiễm, cách ly Covid-19; đẩy mạnh giao dịch điện tử, qua hệ thống bưu chính hạn chế tiếp xúc trực tiếp... Đặc biệt, BHXH Việt Nam đã thực hiện việc tạm dừng đóng BHXH vào quỹ hưu trí, tử tuất đối với các doanh nghiệp bị ảnh hưởng bởi dịch Covid-19. Theo báo cáo sơ bộ của BHXH các tỉnh, thành phố, đến ngày 15/4/2020 toàn quốc có 173 đơn vị doanh nghiệp với 20.908 lao động đã được thực hiện tạm dừng đóng BHXH vào quỹ hưu trí và tử tuất, số tiền tạm dừng đóng của các đơn vị trên 91 tỷ đồng…
Thời gian tới, trước tình hình dịch Covid-19 ở nước ta đã cơ bản được khống chế, bước vào giai đoạn bình thường mới nhưng những tác động, hậu quả còn rất nặng nề, BHXH Việt Nam đã đưa ra một số định hướng, kế hoạch trong triển khai, thực hiện nhiệm vụ năm 2020.
Tại hội nghị, lãnh đạo Ngành và lãnh đạo các đơn vị chuyên môn cơ bản thống nhất với 2 kịch bản dự báo gồm: Kịch bản 1 - Dịch Covid-19 được khống chế tại Việt Nam vào tháng 6/2020 và khống chế trên thế giới vào tháng 8/2020. Kịch bản 2 - Dịch Covid-19 được khống chế tại Việt Nam vào tháng 6/2020 và khống chế trên thế giới vào tháng 10/2020.
Với mỗi kịch bản, BHXH Việt Nam đều có những điều chỉnh cụ thể về chỉ tiêu thu; chi trả, giải quyết chế độ; phát triển số người tham gia BHXH, BHYT, BH thất nghiệp, BHXH tự nguyện; đầu tư quỹ…
Kết luận hội nghị, Phó Tổng Giám đốc Đào Việt Ánh yêu cầu, các đơn vị nghiệp vụ cần thống kê, tổng hợp, phân tích kỹ hơn các số liệu, tình hình thực tế để xây dựng, hoàn thiện các kịch bản. Mục tiêu chung là tập trung đưa ra các giải pháp để toàn Ngành hoàn thành các chỉ tiêu về phát triển người tham gia BHXH, BHYT. Đặc biệt, năm 2020, toàn quốc phải đạt trên 90% dân số tham gia BHYT - đây là chỉ tiêu bắt buộc, Ngành BHXH quyết tâm thực hiện. Bên cạnh đó, số người tham gia BHXH phải tính toán, phấn đấu dựa trên các chỉ tiêu của Nghị quyết số 28/NQ-TW; trong đó, số người tham gia BHXH tự nguyện phải tăng trưởng so với năm 2019…
Tin tức
Để hóa đơn điện tử "phủ sóng"
tháng 12 19, 2019 |Mặc dù đến ngày 1-11-2020, việc sử dụng hóa đơn giấy mới chấm dứt trên phạm vi cả nước để chuyển sang hóa đơn điện tử theo hướng dẫn của Bộ Tài chính, song loại hình giao dịch “đa lợi ích” này đã được nhiều doanh nghiệp ứng dụng. Việc đồng loạt triển khai hóa đơn điện tử không chỉ tiết kiệm chi phí mà còn giúp minh bạch hóa hoạt động của doanh nghiệp, tạo ra hệ sinh thái đầu tư - kinh doanh lành mạnh.
Là địa phương có tới 98,4% doanh nghiệp đã thực hiện kê khai thuế qua mạng và 95,3% doanh nghiệp nộp thuế điện tử, Hà Nội sớm nhận thấy rõ những lợi ích từ việc đưa hóa đơn điện tử vào cuộc sống. Các con số trên thể hiện sự ủng hộ của doanh nghiệp trên địa bàn Thủ đô, nhất là các doanh nghiệp nhỏ và hộ kinh doanh trong ứng dụng công nghệ mới vì cộng đồng này chiếm đến 97% số lượng doanh nghiệp, đóng góp hơn 40% GDP cho thành phố... Thuận lợi lớn khi triển khai hóa đơn điện tử đến các chủ thể này là để tối ưu hóa lợi nhuận, cắt giảm chi phí, thuận tiện trong thủ tục hành chính. Với những lợi ích lớn đó, cộng đồng doanh nghiệp sẵn sàng ứng dụng công nghệ mới cũng như đón nhận sự hỗ trợ, khuyến khích của cơ quan thuế.
Song, trên bình diện chung, với nhiều lý do khác nhau, một số doanh nghiệp nhỏ và hộ kinh doanh vẫn chưa mặn mà với loại hóa đơn này. Trước hết là do thói quen ngại thay đổi hình thức giao dịch truyền thống là hóa đơn giấy. Bên cạnh đó, điểm xuất phát thấp, làm ăn nhỏ lẻ, trình độ hiểu biết về công nghệ thông tin không cao cũng là rào cản. Thêm nữa, chi phí đầu tư để sử dụng hóa đơn điện tử không nhỏ khi phải có máy tính, trang thiết bị nối mạng, dịch vụ đường truyền... Trong khi đó, hạ tầng thông tin nhiều lúc, nhiều nơi chưa bảo đảm, nhất là ở vùng sâu, vùng xa.
Để hoàn thành mục tiêu từ ngày 1-11-2020, mọi giao dịch, mua bán hàng hóa, dịch vụ phải chuyển sang hóa đơn điện tử trên phạm vi cả nước, rõ ràng còn nhiều việc phải làm, đòi hỏi triển khai đồng bộ nhiều giải pháp.
Thứ nhất, Tổng cục Thuế cần chỉ đạo quyết liệt cơ quan thuế các địa phương triển khai hóa đơn điện tử đến từng doanh nghiệp; phối hợp với các nhà cung cấp tổ chức nhiều hội nghị triển khai tập huấn, hướng dẫn áp dụng. Qua đó, mọi vướng mắc của người nộp thuế cần được giải đáp và tháo gỡ ngay. Đồng thời, tăng cường tuyên truyền về xu thế phát triển ngày càng mạnh mẽ cùng những lợi ích vượt trội của hóa đơn điện tử.
Thứ hai, tạo sự kết nối đồng bộ giữa các cơ quan quản lý, giải quyết các vấn đề về chi phí và lộ trình áp dụng hóa đơn điện tử. Cần triển khai tốt hạ tầng bảo đảm kỹ thuật giúp doanh nghiệp ứng dụng thuận lợi cũng như giúp quá trình triển khai hóa đơn điện tử được nhanh chóng.
Thứ ba, đặc biệt cần có chính sách hỗ trợ các doanh nghiệp vừa và nhỏ, hộ kinh doanh tại các vùng có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn, hạn chế kinh phí đào tạo, trang thiết bị ban đầu để họ đủ điều kiện áp dụng hóa đơn điện tử. Ngoài ra, cơ quan thuế các cấp cần thành lập tổ chuyên trách, các bộ phận chức năng và công bố các số điện thoại sẵn sàng tư vấn, hỗ trợ trực tiếp cho người nộp thuế trong quá trình thực hiện hóa đơn điện tử.
Bên cạnh sự hỗ trợ từ phía Nhà nước, bản thân doanh nghiệp cần bắt nhịp với tiến trình hội nhập, toàn cầu hóa cũng như xu thế phát triển của thế giới bằng cách chủ động tìm hiểu, áp dụng các công nghệ hiện đại. Những lợi ích vượt trội của hóa đơn điện tử sẽ giúp doanh nghiệp tránh được những rủi ro không đáng có, tạo môi trường kinh doanh lành mạnh... Khi những giải pháp trên được áp dụng hiệu quả, chắc chắn hóa đơn điện tử sẽ “phủ sóng” 100% các doanh nghiệp như lộ trình đề ra.
Read more…
Là địa phương có tới 98,4% doanh nghiệp đã thực hiện kê khai thuế qua mạng và 95,3% doanh nghiệp nộp thuế điện tử, Hà Nội sớm nhận thấy rõ những lợi ích từ việc đưa hóa đơn điện tử vào cuộc sống. Các con số trên thể hiện sự ủng hộ của doanh nghiệp trên địa bàn Thủ đô, nhất là các doanh nghiệp nhỏ và hộ kinh doanh trong ứng dụng công nghệ mới vì cộng đồng này chiếm đến 97% số lượng doanh nghiệp, đóng góp hơn 40% GDP cho thành phố... Thuận lợi lớn khi triển khai hóa đơn điện tử đến các chủ thể này là để tối ưu hóa lợi nhuận, cắt giảm chi phí, thuận tiện trong thủ tục hành chính. Với những lợi ích lớn đó, cộng đồng doanh nghiệp sẵn sàng ứng dụng công nghệ mới cũng như đón nhận sự hỗ trợ, khuyến khích của cơ quan thuế.
Song, trên bình diện chung, với nhiều lý do khác nhau, một số doanh nghiệp nhỏ và hộ kinh doanh vẫn chưa mặn mà với loại hóa đơn này. Trước hết là do thói quen ngại thay đổi hình thức giao dịch truyền thống là hóa đơn giấy. Bên cạnh đó, điểm xuất phát thấp, làm ăn nhỏ lẻ, trình độ hiểu biết về công nghệ thông tin không cao cũng là rào cản. Thêm nữa, chi phí đầu tư để sử dụng hóa đơn điện tử không nhỏ khi phải có máy tính, trang thiết bị nối mạng, dịch vụ đường truyền... Trong khi đó, hạ tầng thông tin nhiều lúc, nhiều nơi chưa bảo đảm, nhất là ở vùng sâu, vùng xa.
Để hoàn thành mục tiêu từ ngày 1-11-2020, mọi giao dịch, mua bán hàng hóa, dịch vụ phải chuyển sang hóa đơn điện tử trên phạm vi cả nước, rõ ràng còn nhiều việc phải làm, đòi hỏi triển khai đồng bộ nhiều giải pháp.
Thứ nhất, Tổng cục Thuế cần chỉ đạo quyết liệt cơ quan thuế các địa phương triển khai hóa đơn điện tử đến từng doanh nghiệp; phối hợp với các nhà cung cấp tổ chức nhiều hội nghị triển khai tập huấn, hướng dẫn áp dụng. Qua đó, mọi vướng mắc của người nộp thuế cần được giải đáp và tháo gỡ ngay. Đồng thời, tăng cường tuyên truyền về xu thế phát triển ngày càng mạnh mẽ cùng những lợi ích vượt trội của hóa đơn điện tử.
Thứ hai, tạo sự kết nối đồng bộ giữa các cơ quan quản lý, giải quyết các vấn đề về chi phí và lộ trình áp dụng hóa đơn điện tử. Cần triển khai tốt hạ tầng bảo đảm kỹ thuật giúp doanh nghiệp ứng dụng thuận lợi cũng như giúp quá trình triển khai hóa đơn điện tử được nhanh chóng.
Thứ ba, đặc biệt cần có chính sách hỗ trợ các doanh nghiệp vừa và nhỏ, hộ kinh doanh tại các vùng có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn, hạn chế kinh phí đào tạo, trang thiết bị ban đầu để họ đủ điều kiện áp dụng hóa đơn điện tử. Ngoài ra, cơ quan thuế các cấp cần thành lập tổ chuyên trách, các bộ phận chức năng và công bố các số điện thoại sẵn sàng tư vấn, hỗ trợ trực tiếp cho người nộp thuế trong quá trình thực hiện hóa đơn điện tử.
Bên cạnh sự hỗ trợ từ phía Nhà nước, bản thân doanh nghiệp cần bắt nhịp với tiến trình hội nhập, toàn cầu hóa cũng như xu thế phát triển của thế giới bằng cách chủ động tìm hiểu, áp dụng các công nghệ hiện đại. Những lợi ích vượt trội của hóa đơn điện tử sẽ giúp doanh nghiệp tránh được những rủi ro không đáng có, tạo môi trường kinh doanh lành mạnh... Khi những giải pháp trên được áp dụng hiệu quả, chắc chắn hóa đơn điện tử sẽ “phủ sóng” 100% các doanh nghiệp như lộ trình đề ra.
Lợi ích kép nhờ hóa đơn điện tử
tháng 12 19, 2019 |Theo Bộ Tài chính, từ ngày 1-11-2020 sẽ chấm dứt việc sử dụng hóa đơn giấy, các giao dịch mua bán hàng hóa, dịch vụ đều chuyển sang dùng hóa đơn điện tử trên phạm vi cả nước. Điều này được cho là mang lại lợi ích kép cho nhiều bên khi hóa đơn điện tử không chỉ giúp doanh nghiệp tiết kiệm thời gian, chi phí, mà còn tạo được môi trường kinh doanh lành mạnh, minh bạch cho các doanh nghiệp...
Tiết kiệm thời gian và chi phí
Theo ông Nguyễn Văn Phụng, Vụ trưởng Vụ Quản lý thuế doanh nghiệp lớn (Tổng cục Thuế), với sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ thông tin, việc triển khai hóa đơn điện tử và hóa đơn điện tử có mã xác thực của cơ quan thuế là xu thế tất yếu, mang lợi ích cho cả doanh nghiệp, người dân và cơ quan quản lý thuế. Đồng thời, đây cũng được coi là một trong những giải pháp cụ thể để Bộ Tài chính hướng tới mục tiêu hỗ trợ doanh nghiệp, cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh.
Tại Hà Nội, nhiều doanh nghiệp đã sử dụng hóa đơn điện tử. Ông Nguyễn Văn Hổ, Phó Cục trưởng Cục Thuế thành phố Hà Nội cho biết, đơn vị đã chuẩn bị các điều kiện cần thiết nhằm triển khai mở rộng hóa đơn điện tử như tập huấn cho các doanh nghiệp, tăng cường tuyên truyền về lợi ích của hóa đơn điện tử. Với nền tảng 98,4% doanh nghiệp trên địa bàn đã thực hiện kê khai thuế qua mạng và 95,3% doanh nghiệp nộp thuế điện tử, Hà Nội đã có những tiền đề quan trọng để đưa hóa đơn điện tử vào thực tế. Cùng với đó, Cục Thuế cũng đã lựa chọn các doanh nghiệp tham gia thí điểm hóa đơn điện tử có mã xác thực của cơ quan thuế kinh doanh ở nhiều lĩnh vực, ngành nghề khác nhau; đồng thời đánh giá một số nhà cung cấp giải pháp để lựa chọn phương án hỗ trợ phù hợp cho các doanh nghiệp.
Theo tính toán của bà Đinh Thị Thúy, Tổng Giám đốc Công ty cổ phần MISA - nhà cung cấp phần mềm hóa đơn điện tử E-Invoice, thông thường khi xuất một hóa đơn giấy, doanh nghiệp sẽ phải trả chi phí khoảng 18.000 đồng, gồm phí chuyển phát nhanh, phí in ấn, phí nhân công, phí lưu trữ, bảo quản…. Thế nhưng, khi sử dụng hóa đơn điện tử, những chi phí này gần như không đáng kể do toàn bộ thao tác được thực hiện trên phần mềm. Chẳng hạn, nếu một doanh nghiệp phải xuất khoảng 60.000 hóa đơn giấy/năm, cần phải chuyển phát qua đường bưu điện sẽ tiêu tốn 1,08 tỷ đồng, nhưng với hóa đơn điện tử, doanh nghiệp sẽ tiết kiệm được toàn bộ khoản kinh phí trên.
Đánh giá về lợi ích của việc sử dụng hóa đơn điện tử, Phó Giám đốc Ban Khách hàng tổ chức doanh nghiệp của VNPT VinaPhone - nhà cung cấp dịch vụ hóa đơn điện tử của VNPT (VNPT - Invoice) Phó Đình Thụ cho rằng, khi chuyển sang sử dụng hóa đơn điện tử, doanh nghiệp sẽ giảm 70% quy trình phát hành, 90% các tranh chấp liên quan đến hóa đơn, rút ngắn 99% thời gian thanh toán, quản lý hóa đơn, tiết kiệm 80% chi phí cho mỗi hóa đơn...
Đồng tình với đánh giá này, bà Nguyễn Thị Thủy, Kế toán Công ty Điện lực Thanh Trì cho biết, khi sử dụng hóa đơn điện tử, doanh nghiệp chỉ cần thông báo qua mạng gửi đến cơ quan thuế về việc sử dụng hóa đơn điện tử và được sử dụng ngay sau khi thông báo được chấp nhận. Đặc biệt, doanh nghiệp sẽ không phải đăng ký mẫu hóa đơn điện tử, không phải gửi báo cáo tình hình sử dụng hóa đơn đến cơ quan thuế do phần mềm tạo hóa đơn điện tử cho phép tự xác định số lượng hóa đơn điện tử sử dụng. Đây là nội dung khác biệt so với việc sử dụng hóa đơn đặt in, hóa đơn tự in, thay cho việc doanh nghiệp phải gửi mẫu hóa đơn và hằng quý phải lập báo cáo tình hình sử dụng hóa đơn đến cơ quan thuế. Việc sử dụng hóa đơn điện tử cũng giúp doanh nghiệp giảm thời gian lập tờ khai thuế giá trị gia tăng vì phần mềm tạo hóa đơn tự động kết chuyển số liệu vào tờ khai thuế giá trị gia tăng.
Khắc phục tình trạng gian lận, trốn thuế
Việc sử dụng hóa đơn điện tử sẽ giúp ngành Thuế xây dựng cơ sở dữ liệu về hóa đơn; từ đó có thể phục vụ công tác thanh tra, kiểm tra, hoàn thuế, phân tích rủi ro. Chủ tịch Hội Tư vấn thuế Việt Nam Nguyễn Thị Cúc chia sẻ, hiện nay khi thanh tra, cơ quan thuế và cơ quan khác của nhà nước đều thực hiện đối chiếu hóa đơn, đây là công việc bắt buộc.
Tuy nhiên, khi sử dụng hóa đơn điện tử, thông tin về hóa đơn của doanh nghiệp được tập trung tại cơ quan thuế một cách liên tục, nên cơ quan thuế có ngay thông tin về doanh thu, chi phí hằng ngày và kịp thời phát hiện những bất thường khi doanh nghiệp xuất hóa đơn. Việc sử dụng hóa đơn điện tử cũng giúp cơ quan thuế kịp thời ngăn chặn hóa đơn của doanh nghiệp bỏ trốn, mất tích, khắc phục tình trạng làm giả hóa đơn, tạo môi trường kinh doanh lành mạnh cho các doanh nghiệp.
Làm rõ hơn quy định về việc sử dụng hóa đơn điện tử, ông Lưu Đức Huy, Vụ trưởng Vụ chính sách (Tổng cục Thuế) cho biết, theo Nghị định số 119/2018/NĐ-CP (ngày 12-9-2018) của Chính phủ quy định về hóa đơn điện tử, khi bán mọi loại hàng hóa, cung cấp dịch vụ, từ ngày 1-11-2020, người bán hàng hóa, dịch vụ phải xuất hóa đơn có hiệu lực. Trong trường hợp người bán không xuất hóa đơn bán hàng, người mua phải yêu cầu được cung cấp, nếu không có thể từ chối mua hàng. Trên hóa đơn bán hàng không chỉ có thông tin người bán hàng, số điện thoại, ngày giờ bán hàng...; mà còn phải có chữ ký số của người bán. Trước khi xuất cho người mua, người bán phải truyền hóa đơn lên hệ thống điện tử của cơ quan thuế để lấy mã xác thực. Nhờ vậy, cơ quan thuế theo dõi doanh thu cũng như việc kê khai và nộp thuế của người bán hàng.
Trước băn khoăn về việc nhiều hộ kinh doanh nhỏ, nhất là ở các chợ đều không có máy tính, nên việc phát hành hóa đơn điện tử kết nối với cơ quan thuế sẽ khó khăn, ông Lưu Đức Huy khẳng định, Tổng cục Thuế đang nghiên cứu phối hợp với các công ty cung cấp các ứng dụng phần mềm để các hộ kinh doanh chỉ cần có điện thoại thông minh tải phần mềm rồi khởi tạo hóa đơn điện tử. Với những lợi ích như thế, hóa đơn điện tử sẽ là "chìa khóa vạn năng", có thể chống được tuyệt đối việc gian lận, trốn thuế.
Read more…
Tiết kiệm thời gian và chi phí
Theo ông Nguyễn Văn Phụng, Vụ trưởng Vụ Quản lý thuế doanh nghiệp lớn (Tổng cục Thuế), với sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ thông tin, việc triển khai hóa đơn điện tử và hóa đơn điện tử có mã xác thực của cơ quan thuế là xu thế tất yếu, mang lợi ích cho cả doanh nghiệp, người dân và cơ quan quản lý thuế. Đồng thời, đây cũng được coi là một trong những giải pháp cụ thể để Bộ Tài chính hướng tới mục tiêu hỗ trợ doanh nghiệp, cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh.
Tại Hà Nội, nhiều doanh nghiệp đã sử dụng hóa đơn điện tử. Ông Nguyễn Văn Hổ, Phó Cục trưởng Cục Thuế thành phố Hà Nội cho biết, đơn vị đã chuẩn bị các điều kiện cần thiết nhằm triển khai mở rộng hóa đơn điện tử như tập huấn cho các doanh nghiệp, tăng cường tuyên truyền về lợi ích của hóa đơn điện tử. Với nền tảng 98,4% doanh nghiệp trên địa bàn đã thực hiện kê khai thuế qua mạng và 95,3% doanh nghiệp nộp thuế điện tử, Hà Nội đã có những tiền đề quan trọng để đưa hóa đơn điện tử vào thực tế. Cùng với đó, Cục Thuế cũng đã lựa chọn các doanh nghiệp tham gia thí điểm hóa đơn điện tử có mã xác thực của cơ quan thuế kinh doanh ở nhiều lĩnh vực, ngành nghề khác nhau; đồng thời đánh giá một số nhà cung cấp giải pháp để lựa chọn phương án hỗ trợ phù hợp cho các doanh nghiệp.
Theo tính toán của bà Đinh Thị Thúy, Tổng Giám đốc Công ty cổ phần MISA - nhà cung cấp phần mềm hóa đơn điện tử E-Invoice, thông thường khi xuất một hóa đơn giấy, doanh nghiệp sẽ phải trả chi phí khoảng 18.000 đồng, gồm phí chuyển phát nhanh, phí in ấn, phí nhân công, phí lưu trữ, bảo quản…. Thế nhưng, khi sử dụng hóa đơn điện tử, những chi phí này gần như không đáng kể do toàn bộ thao tác được thực hiện trên phần mềm. Chẳng hạn, nếu một doanh nghiệp phải xuất khoảng 60.000 hóa đơn giấy/năm, cần phải chuyển phát qua đường bưu điện sẽ tiêu tốn 1,08 tỷ đồng, nhưng với hóa đơn điện tử, doanh nghiệp sẽ tiết kiệm được toàn bộ khoản kinh phí trên.
Đánh giá về lợi ích của việc sử dụng hóa đơn điện tử, Phó Giám đốc Ban Khách hàng tổ chức doanh nghiệp của VNPT VinaPhone - nhà cung cấp dịch vụ hóa đơn điện tử của VNPT (VNPT - Invoice) Phó Đình Thụ cho rằng, khi chuyển sang sử dụng hóa đơn điện tử, doanh nghiệp sẽ giảm 70% quy trình phát hành, 90% các tranh chấp liên quan đến hóa đơn, rút ngắn 99% thời gian thanh toán, quản lý hóa đơn, tiết kiệm 80% chi phí cho mỗi hóa đơn...
Đồng tình với đánh giá này, bà Nguyễn Thị Thủy, Kế toán Công ty Điện lực Thanh Trì cho biết, khi sử dụng hóa đơn điện tử, doanh nghiệp chỉ cần thông báo qua mạng gửi đến cơ quan thuế về việc sử dụng hóa đơn điện tử và được sử dụng ngay sau khi thông báo được chấp nhận. Đặc biệt, doanh nghiệp sẽ không phải đăng ký mẫu hóa đơn điện tử, không phải gửi báo cáo tình hình sử dụng hóa đơn đến cơ quan thuế do phần mềm tạo hóa đơn điện tử cho phép tự xác định số lượng hóa đơn điện tử sử dụng. Đây là nội dung khác biệt so với việc sử dụng hóa đơn đặt in, hóa đơn tự in, thay cho việc doanh nghiệp phải gửi mẫu hóa đơn và hằng quý phải lập báo cáo tình hình sử dụng hóa đơn đến cơ quan thuế. Việc sử dụng hóa đơn điện tử cũng giúp doanh nghiệp giảm thời gian lập tờ khai thuế giá trị gia tăng vì phần mềm tạo hóa đơn tự động kết chuyển số liệu vào tờ khai thuế giá trị gia tăng.
![]() |
| Cán bộ thuế hướng dẫn doanh nghiệp khai hóa đơn điện tử. |
Việc sử dụng hóa đơn điện tử sẽ giúp ngành Thuế xây dựng cơ sở dữ liệu về hóa đơn; từ đó có thể phục vụ công tác thanh tra, kiểm tra, hoàn thuế, phân tích rủi ro. Chủ tịch Hội Tư vấn thuế Việt Nam Nguyễn Thị Cúc chia sẻ, hiện nay khi thanh tra, cơ quan thuế và cơ quan khác của nhà nước đều thực hiện đối chiếu hóa đơn, đây là công việc bắt buộc.
Tuy nhiên, khi sử dụng hóa đơn điện tử, thông tin về hóa đơn của doanh nghiệp được tập trung tại cơ quan thuế một cách liên tục, nên cơ quan thuế có ngay thông tin về doanh thu, chi phí hằng ngày và kịp thời phát hiện những bất thường khi doanh nghiệp xuất hóa đơn. Việc sử dụng hóa đơn điện tử cũng giúp cơ quan thuế kịp thời ngăn chặn hóa đơn của doanh nghiệp bỏ trốn, mất tích, khắc phục tình trạng làm giả hóa đơn, tạo môi trường kinh doanh lành mạnh cho các doanh nghiệp.
Làm rõ hơn quy định về việc sử dụng hóa đơn điện tử, ông Lưu Đức Huy, Vụ trưởng Vụ chính sách (Tổng cục Thuế) cho biết, theo Nghị định số 119/2018/NĐ-CP (ngày 12-9-2018) của Chính phủ quy định về hóa đơn điện tử, khi bán mọi loại hàng hóa, cung cấp dịch vụ, từ ngày 1-11-2020, người bán hàng hóa, dịch vụ phải xuất hóa đơn có hiệu lực. Trong trường hợp người bán không xuất hóa đơn bán hàng, người mua phải yêu cầu được cung cấp, nếu không có thể từ chối mua hàng. Trên hóa đơn bán hàng không chỉ có thông tin người bán hàng, số điện thoại, ngày giờ bán hàng...; mà còn phải có chữ ký số của người bán. Trước khi xuất cho người mua, người bán phải truyền hóa đơn lên hệ thống điện tử của cơ quan thuế để lấy mã xác thực. Nhờ vậy, cơ quan thuế theo dõi doanh thu cũng như việc kê khai và nộp thuế của người bán hàng.
Trước băn khoăn về việc nhiều hộ kinh doanh nhỏ, nhất là ở các chợ đều không có máy tính, nên việc phát hành hóa đơn điện tử kết nối với cơ quan thuế sẽ khó khăn, ông Lưu Đức Huy khẳng định, Tổng cục Thuế đang nghiên cứu phối hợp với các công ty cung cấp các ứng dụng phần mềm để các hộ kinh doanh chỉ cần có điện thoại thông minh tải phần mềm rồi khởi tạo hóa đơn điện tử. Với những lợi ích như thế, hóa đơn điện tử sẽ là "chìa khóa vạn năng", có thể chống được tuyệt đối việc gian lận, trốn thuế.
Theo Hanoimoi
Hơn 700 doanh nghiệp được tập huấn về hóa đơn điện tử
tháng 10 26, 2019 |Ngày 25-10, Cục Thuế thành phố Hà Nội tổ chức hội nghị tập huấn về hóa đơn điện tử cho hơn 700 doanh nghiệp trên địa bàn.
Theo Phó Cục trưởng Cục Thuế thành phố Hà Nội Nguyễn Văn Hổ, sau nhiều năm đưa vào sử dụng, hóa đơn điện tử đã khẳng định được sự vượt trội so với hóa đơn giấy truyền thống. Việc mở rộng áp dụng hóa đơn điện tử tại địa bàn Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh cũng là một trong những nhiệm vụ trọng tâm năm 2019 của Chính phủ.
Chủ trương này sẽ giúp cơ quan thuế và các cơ quan chức năng của Nhà nước tiết giảm thời gian, chi phí trong việc quản lý, đối chiếu hóa đơn; đồng thời có thể góp phần ngăn chặn kịp thời việc lợi dụng hóa đơn của các doanh nghiệp bỏ trốn, mất tích, tạo sự đồng thuận cao trong cộng đồng doanh nghiệp, người nộp thuế.
Read more…
Theo Phó Cục trưởng Cục Thuế thành phố Hà Nội Nguyễn Văn Hổ, sau nhiều năm đưa vào sử dụng, hóa đơn điện tử đã khẳng định được sự vượt trội so với hóa đơn giấy truyền thống. Việc mở rộng áp dụng hóa đơn điện tử tại địa bàn Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh cũng là một trong những nhiệm vụ trọng tâm năm 2019 của Chính phủ.
Chủ trương này sẽ giúp cơ quan thuế và các cơ quan chức năng của Nhà nước tiết giảm thời gian, chi phí trong việc quản lý, đối chiếu hóa đơn; đồng thời có thể góp phần ngăn chặn kịp thời việc lợi dụng hóa đơn của các doanh nghiệp bỏ trốn, mất tích, tạo sự đồng thuận cao trong cộng đồng doanh nghiệp, người nộp thuế.













