Home » Lương hưu
Đẩy mạnh thực hiện chi trả lương hưu, trợ cấp BHXH, trợ cấp thất nghiệp không dùng tiền mặt
tháng 6 10, 2020 |BHXH Việt Nam vừa ban hành Kế hoạch số 1823/KH-BHXH về việc đẩy mạnh thực hiện chi trả lương hưu, trợ cấp BHXH, trợ cấp thất nghiệp không dùng tiền mặt qua hệ thống ngân hàng, từ năm 2020 đến năm 2025.
Theo đó, thực hiện Quyết định số 149/QĐ-TTg ngày 22/01/2020 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Chiến lược tài chính toàn diện quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030 và Chỉ thị số 22/CT-TTg ngày 26/5/2020 của Thủ tướng Chính phủ về việc đẩy mạnh triển khai các giải pháp phát triển thanh toán không dùng tiền mặt tại Việt Nam, BHXH Việt Nam ban hành Kế hoạch “Đẩy mạnh thực hiện chi trả lương hưu, trợ cấp BHXH, trợ cấp thất nghiệp (TCTN) không dùng tiền mặt qua hệ thống ngân hàng từ năm 2020 đến năm 2025”.
Kế hoạch nhằm xây dựng nhiệm vụ trọng tâm, giải pháp chủ yếu đẩy mạnh thực hiện chi trả lương hưu, trợ cấp BHXH, TCTN không dùng tiền mặt qua hệ thống ngân hàng (bao gồm cả các tổ chức đại lý của ngân hàng) theo nhiệm vụ được phân công tại Chương trình hành động thực hiện chiến lược tài chính toàn diện quốc gia ban hành kèm theo Quyết định số 149/QĐ-TTg và Chỉ thị số 22/CT-TTg phù hợp với lộ trình phát triển mô hình đại lý ngân hàng, kênh phân phối hiện đại, đặc biệt là ở các vùng chưa hoặc ít có dịch vụ ngân hàng, vùng nông thôn, vùng sâu, vùng xa.
Để thực hiện hiệu quả công tác chi trả lương hưu, trợ cấp BHXH, TCTN không dùng tiền mặt qua hệ thống ngân hàng, Kế hoạch của BHXH Việt Nam đã đề ra một số nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu như: Tiếp tục đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến sâu rộng chủ trương của Chính phủ, của Ngành về việc đẩy mạnh chi trả lương hưu, trợ cấp BHXH, TCTN không dùng tiền mặt qua hệ thống ngân hàng, tổ chức đại lý của ngân hàng; tập trung tuyên truyền về hiệu quả, lợi ích của việc chi trả không dùng tiền mặt, quy trình, thủ tục thực hiện; các sản phẩm, dịch vụ của ngân hàng.
Tập trung rà soát, sửa đổi, bổ sung quy trình chi trả các chế độ BHXH, BH thất nghiệp và quản lý người hưởng nhằm phù hợp với quy trình cung ứng dịch vụ thanh toán không dùng tiền mặt của ngân hàng, tổ chức đại lý của ngân hàng cung ứng dịch vụ chi hộ đảm bảo tính an toàn, bảo mật và thực hiện giao dịch điện tử.
Chuẩn hóa thông tin dữ liệu về người hưởng lương hưu, trợ cấp BHXH, TCTN để kết nối, chia sẻ thông tin với tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán và tổ chức cung ứng dịch vụ trung gian thanh toán. Trong đó, hoàn thiện CSDL thông tin người hưởng lương hưu, trợ cấp BHXH, TCTN; hoàn thiện hạ tầng CNTT, hệ thống phần mềm quản lý đảm bảo sẵn sàng kết nối, chia sẻ với tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán và tổ chức cung ứng dịch vụ trung gian thanh toán trong chi trả lương hưu, trợ cấp BHXH, TCTN, đảm bảo tính bảo mật trong giao dịch thanh toán theo đúng quy định; đẩy mạnh thực hiện giao dịch điện tử, sử dụng chữ ký số trong việc chi trả, trao đổi thông tin giữa cơ quan BHXH với ngân hàng, tổ chức cung ứng dịch vụ chi hộ là đại lý của ngân hàng.
Nghiên cứu, tham khảo kinh nghiệm quốc tế về thực hiện chi trả lương hưu, trợ cấp BHXH, TCTN không dùng tiền mặt qua hệ thống ngân hàng (thông qua trao đổi đoàn công tác, hội nghị, hội thảo...).
Xây dựng mục tiêu, lộ trình và giao chỉ tiêu cho từng BHXH tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (BHXH tỉnh) thực hiện chỉ tiêu vận động, khuyến khích người hưởng lương hưu, trợ cấp BHXH, TCTN nhận qua tài khoản cá nhân và tổ chức cung cấp dịch vụ chi hộ là đại lý của ngân hàng đến năm 2025 phù hợp với lộ trình phát triển mô hình đại lý ngân hàng, kênh phân phối hiện đại, đặc biệt là ở các vùng chưa có hoặc ít có dịch vụ ngân hàng, vùng nông thôn, vùng sâu, vùng xa.
Tiếp tục thực hiện các nhiệm vụ, giải pháp đẩy mạnh chi trả dịch vụ an sinh xã hội qua phương tiện thanh toán không dùng tiền mặt tại Kế hoạch số 1764/KH-BHXH ngày 23/5/2019 của BHXH Việt Nam; mục tiêu năm 2020 đạt 20% số tiền chi trả an sinh xã hội ở khu vực đô thị được chi trả qua phương thức không dùng tiền mặt theo Quyết định số 241/QĐ-TTG ngày 23/2/2018 của Thủ tướng Chính phủ; đến năm 2021 phấn đấu đạt 50% số người nhận lương hưu, trợ cấp BHXH, mai táng phí, tử tuất… sử dụng phương tiện thanh toán không dùng tiền mặt ở khu vực đô thị theo Nghị quyết số 02/NQ-CP ngày 1/1/2019 của Chính phủ.
Read more…
![]() |
| Chi trả lương hưu và trợ cấp thất nghiệp cho người dân |
Kế hoạch nhằm xây dựng nhiệm vụ trọng tâm, giải pháp chủ yếu đẩy mạnh thực hiện chi trả lương hưu, trợ cấp BHXH, TCTN không dùng tiền mặt qua hệ thống ngân hàng (bao gồm cả các tổ chức đại lý của ngân hàng) theo nhiệm vụ được phân công tại Chương trình hành động thực hiện chiến lược tài chính toàn diện quốc gia ban hành kèm theo Quyết định số 149/QĐ-TTg và Chỉ thị số 22/CT-TTg phù hợp với lộ trình phát triển mô hình đại lý ngân hàng, kênh phân phối hiện đại, đặc biệt là ở các vùng chưa hoặc ít có dịch vụ ngân hàng, vùng nông thôn, vùng sâu, vùng xa.
Để thực hiện hiệu quả công tác chi trả lương hưu, trợ cấp BHXH, TCTN không dùng tiền mặt qua hệ thống ngân hàng, Kế hoạch của BHXH Việt Nam đã đề ra một số nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu như: Tiếp tục đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến sâu rộng chủ trương của Chính phủ, của Ngành về việc đẩy mạnh chi trả lương hưu, trợ cấp BHXH, TCTN không dùng tiền mặt qua hệ thống ngân hàng, tổ chức đại lý của ngân hàng; tập trung tuyên truyền về hiệu quả, lợi ích của việc chi trả không dùng tiền mặt, quy trình, thủ tục thực hiện; các sản phẩm, dịch vụ của ngân hàng.
Tập trung rà soát, sửa đổi, bổ sung quy trình chi trả các chế độ BHXH, BH thất nghiệp và quản lý người hưởng nhằm phù hợp với quy trình cung ứng dịch vụ thanh toán không dùng tiền mặt của ngân hàng, tổ chức đại lý của ngân hàng cung ứng dịch vụ chi hộ đảm bảo tính an toàn, bảo mật và thực hiện giao dịch điện tử.
Chuẩn hóa thông tin dữ liệu về người hưởng lương hưu, trợ cấp BHXH, TCTN để kết nối, chia sẻ thông tin với tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán và tổ chức cung ứng dịch vụ trung gian thanh toán. Trong đó, hoàn thiện CSDL thông tin người hưởng lương hưu, trợ cấp BHXH, TCTN; hoàn thiện hạ tầng CNTT, hệ thống phần mềm quản lý đảm bảo sẵn sàng kết nối, chia sẻ với tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán và tổ chức cung ứng dịch vụ trung gian thanh toán trong chi trả lương hưu, trợ cấp BHXH, TCTN, đảm bảo tính bảo mật trong giao dịch thanh toán theo đúng quy định; đẩy mạnh thực hiện giao dịch điện tử, sử dụng chữ ký số trong việc chi trả, trao đổi thông tin giữa cơ quan BHXH với ngân hàng, tổ chức cung ứng dịch vụ chi hộ là đại lý của ngân hàng.
Nghiên cứu, tham khảo kinh nghiệm quốc tế về thực hiện chi trả lương hưu, trợ cấp BHXH, TCTN không dùng tiền mặt qua hệ thống ngân hàng (thông qua trao đổi đoàn công tác, hội nghị, hội thảo...).
Xây dựng mục tiêu, lộ trình và giao chỉ tiêu cho từng BHXH tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (BHXH tỉnh) thực hiện chỉ tiêu vận động, khuyến khích người hưởng lương hưu, trợ cấp BHXH, TCTN nhận qua tài khoản cá nhân và tổ chức cung cấp dịch vụ chi hộ là đại lý của ngân hàng đến năm 2025 phù hợp với lộ trình phát triển mô hình đại lý ngân hàng, kênh phân phối hiện đại, đặc biệt là ở các vùng chưa có hoặc ít có dịch vụ ngân hàng, vùng nông thôn, vùng sâu, vùng xa.
Tiếp tục thực hiện các nhiệm vụ, giải pháp đẩy mạnh chi trả dịch vụ an sinh xã hội qua phương tiện thanh toán không dùng tiền mặt tại Kế hoạch số 1764/KH-BHXH ngày 23/5/2019 của BHXH Việt Nam; mục tiêu năm 2020 đạt 20% số tiền chi trả an sinh xã hội ở khu vực đô thị được chi trả qua phương thức không dùng tiền mặt theo Quyết định số 241/QĐ-TTG ngày 23/2/2018 của Thủ tướng Chính phủ; đến năm 2021 phấn đấu đạt 50% số người nhận lương hưu, trợ cấp BHXH, mai táng phí, tử tuất… sử dụng phương tiện thanh toán không dùng tiền mặt ở khu vực đô thị theo Nghị quyết số 02/NQ-CP ngày 1/1/2019 của Chính phủ.
Cổng Thông tin BHXH
Xây dựng lộ trình chuẩn hóa dữ liệu người hưởng lương hưu, trợ cấp BHXH
tháng 5 28, 2020 |Thủ tướng Chính phủ vừa ban hành Chỉ thị số 22/CT-TTg về việc đẩy mạnh triển khai các giải pháp phát triển thanh toán không dùng tiền mặt tại Việt Nam.
Chỉ thị nêu rõ, ngày 30/12/2016, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 2545/QĐ-TTg phê duyệt Đề án phát triển thanh toán không dùng tiền mặt tại Việt Nam giai đoạn 2016-2020. Sau gần 4 năm triển khai Quyết định này, hoạt động thanh toán không dùng tiền mặt tiếp tục phát triển tích cực; tuy nhiên vẫn còn chiếm tỷ lệ thấp trên tổng các phương tiện thanh toán.
Để tiếp tục thúc đẩy phát triển thanh toán không dùng tiền mặt, thanh toán điện tử đạt được các mục tiêu của Quyết định số 2545/QĐ-TTg, đặc biệt trong bối cảnh diễn biến phức tạp của dịch bệnh Covid-19, Thủ tướng Chính phủ yêu cầu các bộ, ngành liên quan, các địa phương tích cực, khẩn trương thực hiện các nhiệm vụ chủ yếu đã được Thủ tướng Chính phủ giao tại Quyết định số 2545/QĐ-TTg và các Nghị quyết của Chính phủ.
Thủ tướng Chính phủ yêu cầu, trước ngày 01/7/2020, các bộ liên quan phải hoàn thành một số nhiệm vụ. Cụ thể:
Bộ Công Thương phải hoàn thành việc ban hành cơ chế, chính sách khuyến khích các cơ sở bán lẻ hàng hóa, dịch vụ chấp nhận và sử dụng các phương tiện thanh toán điện tử; khuyến khích thanh toán điện tử trong thương mại điện tử.
Bộ Tài chính có hướng dẫn cụ thể về cơ chế tài chính của các tổ chức hành chính, đơn vị sự nghiệp trong việc chi trả phí dịch vụ thanh toán không dùng tiền mặt cho tổ chức tín dụng, tổ chức trung gian thanh toán đảm bảo áp dụng khả thi, thực hiện thống nhất.
Bộ Y tế hoàn thành việc chỉ đạo, hướng dẫn các BV phối hợp với các tổ chức tín dụng, tổ chức trung gian thanh toán để thu phí dịch vụ y tế bằng phương thức thanh toán không dùng tiền mặt.
Bộ GD-ĐT hoàn thành việc chỉ đạo, hướng dẫn các trường học phối hợp với các tổ chức tín dụng, tổ chức trung gian thanh toán để thu phí dịch vụ giáo dục bằng phương thức thanh toán không dùng tiền mặt, xây dựng, chuẩn hóa Cơ sở dữ liệu, nâng cấp hạ tầng kỹ thuật kết nối, chia sẻ thông tin với tổ chức tín dụng, tổ chức trung gian thanh toán để thực hiện thu phí dịch vụ giáo dục bằng phương tiện thanh toán điện tử.
Bộ LĐ-TB&XH và BHXH Việt Nam hoàn thành việc xây dựng và ban hành theo thẩm quyền các hướng dẫn, tiêu chuẩn, lộ trình chuẩn hóa thông tin dữ liệu về người nhận lương hưu, trợ cấp BHXH, các chế độ an sinh xã hội để có thể kết nối, chia sẻ thông tin với tổ chức tín dụng, tổ chức trung gian thanh toán thực hiện chi trả các chế độ an sinh xã hội .
Bộ Công an khẩn trương hoàn thành việc rà soát, sửa đổi, bổ sung các quy định về đảm bảo an ninh, an toàn, phát hiện, phòng ngừa, ngăn chặn và xử lý vi phạm pháp luật trong lĩnh vực thanh toán điện tử, trung gian thanh toán; hoàn thiện việc chủ trì xây dựng Cơ sở dữ liệu về xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông; áp dụng thống nhất việc định danh các khoản thu phạt vi phạm hành chính; kết nối chia sẻ thông tin thu phạt với Kho bạc Nhà nước, các tổ chức tín dụng và các đơn vị có liên quan; ứng dụng các phương thức thanh toán không dùng tiền mặt trong thu phạt vi phạm hành chính.
Bộ Giao thông vận tải khẩn trương hoàn thành việc nghiên cứu, ban hành chính sách khuyến khích phát triển các loại thẻ đa dụng, đa năng, thẻ không tiếp xúc, thẻ phi vật lý để thu phí cầu đường, mua vé tàu, xe…
Read more…
Chỉ thị nêu rõ, ngày 30/12/2016, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 2545/QĐ-TTg phê duyệt Đề án phát triển thanh toán không dùng tiền mặt tại Việt Nam giai đoạn 2016-2020. Sau gần 4 năm triển khai Quyết định này, hoạt động thanh toán không dùng tiền mặt tiếp tục phát triển tích cực; tuy nhiên vẫn còn chiếm tỷ lệ thấp trên tổng các phương tiện thanh toán.
Để tiếp tục thúc đẩy phát triển thanh toán không dùng tiền mặt, thanh toán điện tử đạt được các mục tiêu của Quyết định số 2545/QĐ-TTg, đặc biệt trong bối cảnh diễn biến phức tạp của dịch bệnh Covid-19, Thủ tướng Chính phủ yêu cầu các bộ, ngành liên quan, các địa phương tích cực, khẩn trương thực hiện các nhiệm vụ chủ yếu đã được Thủ tướng Chính phủ giao tại Quyết định số 2545/QĐ-TTg và các Nghị quyết của Chính phủ.
![]() |
| Ảnh minh hoạ |
Bộ Công Thương phải hoàn thành việc ban hành cơ chế, chính sách khuyến khích các cơ sở bán lẻ hàng hóa, dịch vụ chấp nhận và sử dụng các phương tiện thanh toán điện tử; khuyến khích thanh toán điện tử trong thương mại điện tử.
Bộ Tài chính có hướng dẫn cụ thể về cơ chế tài chính của các tổ chức hành chính, đơn vị sự nghiệp trong việc chi trả phí dịch vụ thanh toán không dùng tiền mặt cho tổ chức tín dụng, tổ chức trung gian thanh toán đảm bảo áp dụng khả thi, thực hiện thống nhất.
Bộ Y tế hoàn thành việc chỉ đạo, hướng dẫn các BV phối hợp với các tổ chức tín dụng, tổ chức trung gian thanh toán để thu phí dịch vụ y tế bằng phương thức thanh toán không dùng tiền mặt.
Bộ GD-ĐT hoàn thành việc chỉ đạo, hướng dẫn các trường học phối hợp với các tổ chức tín dụng, tổ chức trung gian thanh toán để thu phí dịch vụ giáo dục bằng phương thức thanh toán không dùng tiền mặt, xây dựng, chuẩn hóa Cơ sở dữ liệu, nâng cấp hạ tầng kỹ thuật kết nối, chia sẻ thông tin với tổ chức tín dụng, tổ chức trung gian thanh toán để thực hiện thu phí dịch vụ giáo dục bằng phương tiện thanh toán điện tử.
Bộ LĐ-TB&XH và BHXH Việt Nam hoàn thành việc xây dựng và ban hành theo thẩm quyền các hướng dẫn, tiêu chuẩn, lộ trình chuẩn hóa thông tin dữ liệu về người nhận lương hưu, trợ cấp BHXH, các chế độ an sinh xã hội để có thể kết nối, chia sẻ thông tin với tổ chức tín dụng, tổ chức trung gian thanh toán thực hiện chi trả các chế độ an sinh xã hội .
Bộ Công an khẩn trương hoàn thành việc rà soát, sửa đổi, bổ sung các quy định về đảm bảo an ninh, an toàn, phát hiện, phòng ngừa, ngăn chặn và xử lý vi phạm pháp luật trong lĩnh vực thanh toán điện tử, trung gian thanh toán; hoàn thiện việc chủ trì xây dựng Cơ sở dữ liệu về xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông; áp dụng thống nhất việc định danh các khoản thu phạt vi phạm hành chính; kết nối chia sẻ thông tin thu phạt với Kho bạc Nhà nước, các tổ chức tín dụng và các đơn vị có liên quan; ứng dụng các phương thức thanh toán không dùng tiền mặt trong thu phạt vi phạm hành chính.
Bộ Giao thông vận tải khẩn trương hoàn thành việc nghiên cứu, ban hành chính sách khuyến khích phát triển các loại thẻ đa dụng, đa năng, thẻ không tiếp xúc, thẻ phi vật lý để thu phí cầu đường, mua vé tàu, xe…
Cổng thông tin BHXH Việt Nam
Hưởng BHXH một lần- "lợi bất cập hại"
tháng 4 27, 2020 |Lương hưu khi về già, là một quan niệm không còn xa lạ với người dân Việt Nam. Trên thực tế, vẫn còn nhiều người cho rằng đây không phải là một điều thực sự cần thiết và quá xa xôi. Thế nhưng, đây lại là một vấn đề cần phải dự trù, lo lắng ngay từ khi chúng ta còn sức lao động.
Trên thực tế vẫn có cả triệu người khi về già không có lương hưu, vẫn sống bình thường. Điều đó không sai, nhưng cuộc sống của họ sẽ phụ thuộc rất nhiều vào người thân, con cái, từ chuyện ăn, chuyện mặc, chuyện chi tiêu hàng ngày rồi chuyện đau, ốm…Tuy nhiên đó là đối với những người may mắn có con cái là chỗ dựa khi tuổi cao. Còn đối với những người khi về già, mất sức lao động lại sống neo đơn thì họ không biết dựa dẫm vào ai, trong khi không biết kiếm đâu ra tiền, cuộc sống thực sự trở nên bế tắc.
Trước đây, nhu cầu cuộc sống của người dân chỉ đơn giản là việc làm sao để có được bữa ăn hàng ngày, đây là chuyện có thể dễ dàng xoay sở được. Vì đa phần những nhu cầu tối thiểu ấy có thể được đảm bảo bởi khả năng tự cung tự cấp như hạt gạo, mớ rau, con cá… Tuy nhiên, ngày nay khi cuộc sống đã có phần sung túc hơn, nhu cầu người dân không còn phải quá lo lắng về cơm ăn, áo mặc nữa mà còn rất nhiều những rủi ro mang tính khách quan như thiên tai, dịch bệnh bất ngờ gặp phải trong cuộc sống.
Tất cả những vấn đề tiêu cực ấy đang có xu hướng ngày càng gia tăng, tác động tiêu cực, ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe và tính mạng của con người. Trong bối cảnh ấy nếu chỉ ăn bữa nay, lo bữa mai, mà không tích luỹ, đầu tư thì chỉ cần “ốm to” một lần, mất mùa một vụ ... Khó khăn sẽ ập ngay đến đầu giường.
Nhiều người vẫn tâm niệm rằng “trẻ cậy cha, già cậy con”. Đó được coi là một trong những giá trị truyền thống của người Việt. Nhưng nay đời sống xã hội đã thay đổi. Con cái có thể chu cấp cho cha mẹ, nhưng không muốn sống chung. Người già cũng không muốn làm phiền con cháu. Mối quan hệ cộng đồng làng xã, dòng họ cũng khác xưa. Trong nhiều trường hợp, gia đình, cộng đồng không còn là chỗ dựa vững chắc nhất cho người già như trước nữa.
Ngoài ra, không thể không nhắc đến là sự khác biệt ngày càng lớn trong quan niệm về giá trị sống, giá trị văn hóa, thậm chí đạo đức của người già và người trẻ. Giữa các thế hệ bây giờ dường như khó tìm được tiếng nói chung, niềm tin chung, dẫn đến thái độ ứng xử về cùng một sự việc có khi không giống nhau, có thể là không quan tâm, tệ hơn là xuất hiện những xung đột khó hòa giải.
Bởi thực tế con cái cũng đang phải vất vả, bươn trải để lo cho tổ ấm của riêng mình. Tấm lòng hiếu thảo với cha mẹ, có thể vẫn nguyên vẹn theo đạo lý, nhưng họ vẫn phải chịu những áp lực về chi tiêu và những lo toan cho cuộc sống hàng ngày đó là chưa kể đến những rủi ro bất ngờ gặp phải đối với gia đình nhỏ của mình,… những vấn đề ấy đã vô tình cản trở việc báo hiếu với cha mẹ. Khi rơi vào tình cảnh mất khả năng lao động, không thu nhập, không BHYT, người già sẽ trở thành gánh nặng cho con, cháu mình là điều dễ thấy.
Thấu hiểu được điều này, Đảng và Nhà nước đã ban hành chính sách an sinh xã hội, đặc biệt trong đó chính sách về BHXH, BHYT là những chính sách có ý nghĩa nhân văn sâu sắc và tính nhân đạo cao cả.
So với nhiều quốc gia trên thế giới, có thể khẳng định chính sách an sinh xã hội nói chung, trong đó bao gồm cả chính sách BHXH, BHYT ở Việt Nam đã thể hiện tính ưu việt đặc biệt của Chính phủ đối với quyền lợi an sinh của mọi tầng lớp, mọi độ tuổi nhân dân.
Với quy định về mức đóng, mức hưởng như hiện nay, người tham gia BHXH, BHYT đã được đảm bảo những quyền lợi hết sức cơ bản và ổn định. Đó là quyền lợi được hưởng Chế độ ốm đau, Chế độ thai sản, Chế độ tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp, Chế độ hưu trí, Chế độ tử tuất, Chế độ Bảo hiểm thất nghiệp.
Không chỉ vậy, với người tham gia BHXH tự nguyện sẽ được hưởng 2 Chế độ là Hưu trí và Tử tuất…Đặc biệt, đối với người lao động khi tham gia BHXH , hoặc BHXH tự nguyện, tới khi đủ điều kiện hưởng lương hưu sẽ được cấp Thẻ BHYT miễn phí. Đây là một lợi ích hết sức thiết thực và có giá trị vô cùng lớn đối với bản thân và gia đình người dân khi tham gia BHXH hoặc BHXH tự nguyện.
Thế nhưng, những ngày gần đây, do ảnh hưởng của dịch Covid-19, rất nhiều người lao động, đặc biệt ở một số tỉnh phía Nam như Bình Dương, Đồng Nai, thành phố Hồ Chí Minh…đã lựa chọn hưởng BHXH một lần. Đây là sự lựa chọn chưa thực sự thấu đáo.
Bởi giá trị của BHXH không hẳn nằm ở mặt kinh tế nhìn thấy khi hưởng một lần mà nó còn là những giá trị nhân văn được Nhà nước gửi gắm, như chế độ hưu trí và rất nhiều quyền lợi thiết thực khác. Có thể số tiền khi nhận chế độ BHXH một lần sẽ giải quyết được khó khăn trước mắt, thế nhưng kéo theo đó, người dân đã tự đưa mình lọt khỏi lưới an sinh mà Nhà nước đã dệt nên, tự đưa mình đến gần những thiệt thòi không thể bù đắp được.
Với việc nhận BHXH một lần, bản thân họ không chỉ nhận được số tiền ít hơn rất nhiều so với số tiền họ đã đóng mà khi muốn tham gia trở lại họ sẽ không được cộng nối thời gian, mọi việc sẽ phải bắt đầu lại từ đầu. Dẫn đến tình trạng khi hết tuổi lao động thì họ có thể vẫn chưa đủ thời gian tham gia để được hưởng lương hưu, hoặc nếu có được hưởng thì với mức rất thấp. Đó là chưa kể đến việc nếu không được hưởng chế độ hưu trí, thì cũng không được cấp thẻ BHYT miễn phí. Điều này sẽ đưa bản thân và gia đình tiệm cận với những thiệt hại vô cùng lớn.
Vì vậy, khi cân nhắc quyết định có nên hưởng BHXH một lần, người lao động cũng cần nghĩ đến gánh nặng cuộc đời mà họ dồn lên vai con cháu mình. Với những chia sẻ này mong rằng ai đó, trước khi quyết định hưởng BHXH một lần hãy suy nghĩ thật thấu đáo để có một sự lựa chọn hợp lý làm chỗ dựa khi về già.
Read more…
Trên thực tế vẫn có cả triệu người khi về già không có lương hưu, vẫn sống bình thường. Điều đó không sai, nhưng cuộc sống của họ sẽ phụ thuộc rất nhiều vào người thân, con cái, từ chuyện ăn, chuyện mặc, chuyện chi tiêu hàng ngày rồi chuyện đau, ốm…Tuy nhiên đó là đối với những người may mắn có con cái là chỗ dựa khi tuổi cao. Còn đối với những người khi về già, mất sức lao động lại sống neo đơn thì họ không biết dựa dẫm vào ai, trong khi không biết kiếm đâu ra tiền, cuộc sống thực sự trở nên bế tắc.
Trước đây, nhu cầu cuộc sống của người dân chỉ đơn giản là việc làm sao để có được bữa ăn hàng ngày, đây là chuyện có thể dễ dàng xoay sở được. Vì đa phần những nhu cầu tối thiểu ấy có thể được đảm bảo bởi khả năng tự cung tự cấp như hạt gạo, mớ rau, con cá… Tuy nhiên, ngày nay khi cuộc sống đã có phần sung túc hơn, nhu cầu người dân không còn phải quá lo lắng về cơm ăn, áo mặc nữa mà còn rất nhiều những rủi ro mang tính khách quan như thiên tai, dịch bệnh bất ngờ gặp phải trong cuộc sống.
Tất cả những vấn đề tiêu cực ấy đang có xu hướng ngày càng gia tăng, tác động tiêu cực, ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe và tính mạng của con người. Trong bối cảnh ấy nếu chỉ ăn bữa nay, lo bữa mai, mà không tích luỹ, đầu tư thì chỉ cần “ốm to” một lần, mất mùa một vụ ... Khó khăn sẽ ập ngay đến đầu giường.
Nhiều người vẫn tâm niệm rằng “trẻ cậy cha, già cậy con”. Đó được coi là một trong những giá trị truyền thống của người Việt. Nhưng nay đời sống xã hội đã thay đổi. Con cái có thể chu cấp cho cha mẹ, nhưng không muốn sống chung. Người già cũng không muốn làm phiền con cháu. Mối quan hệ cộng đồng làng xã, dòng họ cũng khác xưa. Trong nhiều trường hợp, gia đình, cộng đồng không còn là chỗ dựa vững chắc nhất cho người già như trước nữa.
Ngoài ra, không thể không nhắc đến là sự khác biệt ngày càng lớn trong quan niệm về giá trị sống, giá trị văn hóa, thậm chí đạo đức của người già và người trẻ. Giữa các thế hệ bây giờ dường như khó tìm được tiếng nói chung, niềm tin chung, dẫn đến thái độ ứng xử về cùng một sự việc có khi không giống nhau, có thể là không quan tâm, tệ hơn là xuất hiện những xung đột khó hòa giải.
Bởi thực tế con cái cũng đang phải vất vả, bươn trải để lo cho tổ ấm của riêng mình. Tấm lòng hiếu thảo với cha mẹ, có thể vẫn nguyên vẹn theo đạo lý, nhưng họ vẫn phải chịu những áp lực về chi tiêu và những lo toan cho cuộc sống hàng ngày đó là chưa kể đến những rủi ro bất ngờ gặp phải đối với gia đình nhỏ của mình,… những vấn đề ấy đã vô tình cản trở việc báo hiếu với cha mẹ. Khi rơi vào tình cảnh mất khả năng lao động, không thu nhập, không BHYT, người già sẽ trở thành gánh nặng cho con, cháu mình là điều dễ thấy.
![]() |
| Người dân được chi trả lương hưu tại nhà |
So với nhiều quốc gia trên thế giới, có thể khẳng định chính sách an sinh xã hội nói chung, trong đó bao gồm cả chính sách BHXH, BHYT ở Việt Nam đã thể hiện tính ưu việt đặc biệt của Chính phủ đối với quyền lợi an sinh của mọi tầng lớp, mọi độ tuổi nhân dân.
Với quy định về mức đóng, mức hưởng như hiện nay, người tham gia BHXH, BHYT đã được đảm bảo những quyền lợi hết sức cơ bản và ổn định. Đó là quyền lợi được hưởng Chế độ ốm đau, Chế độ thai sản, Chế độ tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp, Chế độ hưu trí, Chế độ tử tuất, Chế độ Bảo hiểm thất nghiệp.
Không chỉ vậy, với người tham gia BHXH tự nguyện sẽ được hưởng 2 Chế độ là Hưu trí và Tử tuất…Đặc biệt, đối với người lao động khi tham gia BHXH , hoặc BHXH tự nguyện, tới khi đủ điều kiện hưởng lương hưu sẽ được cấp Thẻ BHYT miễn phí. Đây là một lợi ích hết sức thiết thực và có giá trị vô cùng lớn đối với bản thân và gia đình người dân khi tham gia BHXH hoặc BHXH tự nguyện.
Thế nhưng, những ngày gần đây, do ảnh hưởng của dịch Covid-19, rất nhiều người lao động, đặc biệt ở một số tỉnh phía Nam như Bình Dương, Đồng Nai, thành phố Hồ Chí Minh…đã lựa chọn hưởng BHXH một lần. Đây là sự lựa chọn chưa thực sự thấu đáo.
Bởi giá trị của BHXH không hẳn nằm ở mặt kinh tế nhìn thấy khi hưởng một lần mà nó còn là những giá trị nhân văn được Nhà nước gửi gắm, như chế độ hưu trí và rất nhiều quyền lợi thiết thực khác. Có thể số tiền khi nhận chế độ BHXH một lần sẽ giải quyết được khó khăn trước mắt, thế nhưng kéo theo đó, người dân đã tự đưa mình lọt khỏi lưới an sinh mà Nhà nước đã dệt nên, tự đưa mình đến gần những thiệt thòi không thể bù đắp được.
Với việc nhận BHXH một lần, bản thân họ không chỉ nhận được số tiền ít hơn rất nhiều so với số tiền họ đã đóng mà khi muốn tham gia trở lại họ sẽ không được cộng nối thời gian, mọi việc sẽ phải bắt đầu lại từ đầu. Dẫn đến tình trạng khi hết tuổi lao động thì họ có thể vẫn chưa đủ thời gian tham gia để được hưởng lương hưu, hoặc nếu có được hưởng thì với mức rất thấp. Đó là chưa kể đến việc nếu không được hưởng chế độ hưu trí, thì cũng không được cấp thẻ BHYT miễn phí. Điều này sẽ đưa bản thân và gia đình tiệm cận với những thiệt hại vô cùng lớn.
Vì vậy, khi cân nhắc quyết định có nên hưởng BHXH một lần, người lao động cũng cần nghĩ đến gánh nặng cuộc đời mà họ dồn lên vai con cháu mình. Với những chia sẻ này mong rằng ai đó, trước khi quyết định hưởng BHXH một lần hãy suy nghĩ thật thấu đáo để có một sự lựa chọn hợp lý làm chỗ dựa khi về già.
5 trường hợp nghỉ hưu trước tuổi không bị trừ tỷ lệ hưởng lương hưu
tháng 2 10, 2020 |Theo quy định của Luật BHXH, khi nghỉ hưu trước tuổi, người lao động sẽ bị giảm tỷ lệ hưởng lương hưu theo số năm nghỉ trước. Tuy nhiên, vẫn có những trường hợp pháp luật cho phép người lao động nghỉ hưu trước tuổi mà không bị giảm trừ.
Điều 54 Luật BHXH 2014 quy định: Người lao động có đủ 20 năm đóng BHXH trở lên và đủ 60 tuổi đối với nam, 55 tuổi đối với nữ sẽ được hưởng lương hưu. Và theo quy định tại khoản 2 Điều 56 Luật BHXH 2014, mức lương hưu hàng tháng của người lao động đủ điều kiện nghỉ hưu được tính bằng 45% mức bình quân tiền lương tháng đóng BHXH và tương ứng với số năm đóng BHXH như sau: 18 năm đối với lao động nam;15 năm đối với lao động nữ. Sau đó cứ thêm mỗi năm, người lao động được tính thêm 2% cho đến mức tối đa bằng 75%.
Tuy nhiên, người lao động cũng sẽ bị trừ tỷ lệ hưởng lương hưu với mức 2% cho mỗi năm nghỉ hưu trước tuổi ngoại trừ 05 trường hợp sau đây (tính đến thời điểm hiện tại):
1. Lao động nam từ đủ 55 - 60 tuổi, nữ từ đủ 50 - 55 tuổi và có đủ 15 năm làm nghề hoặc công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm hoặc đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm thuộc danh mục do Bộ LĐ-TB&XH, Bộ Y tế ban hành hoặc có đủ 15 năm làm việc ở nơi có phụ cấp khu vực hệ số 0,7 trở lên (điểm b khoản 1 Điều 54 Luật BHXH 2014).
2. Người lao động từ đủ 50 - 55 tuổi và có đủ 20 năm đóng BHXH trở lên mà trong đó có đủ 15 năm làm công việc khai thác than trong hầm lò (điểm c khoản 1 Điều 54 Luật BHXH 2014).
3. Người bị nhiễm HIV/AIDS do tai nạn rủi ro nghề nghiệp (điểm d khoản 1 Điều 54 Luật BHXH 2014).
4. Cán bộ, công chức, viên chức thuộc diện tinh giản biên chế đủ 50 - 55 tuổi đối với nam, đủ 45 - 50 tuổi đối với nữ, có 20 năm đóng BHXH trở lên mà trong đó có đủ 15 năm làm nghề hoặc công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm thuộc danh mục do Bộ LĐ-TB&XH, Bộ Y tế ban hành hoặc có đủ 15 năm làm việc ở nơi có phụ cấp khu vực hệ số 0,7 trở lên (khoản 1, khoản 3 Điều 8 Nghị định 108/2014/NĐ-CP).
5. Cán bộ, công chức, viên chức thuộc diện tinh giản biên chế đủ 55 - 60 tuổi đối với nam, đủ 50 - 55 tuổi đối với nữ và có 20 năm đóng BHXH trở lên (khoản 2, khoản 4 Điều 8 Nghị định 108/2014/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung tại Nghị định số 113/2018/NĐ-CP).
Nếu thuộc một trong các trường hợp nêu trên, cán bộ, công chức, viên chức và người lao động vẫn được hưởng lương hưu tính theo số năm đã đóng BHXH của mình mà không bị trừ tỷ lệ do nghỉ hưu trước tuổi.
Read more…
![]() |
| Ảnh minh hoạ |
Tuy nhiên, người lao động cũng sẽ bị trừ tỷ lệ hưởng lương hưu với mức 2% cho mỗi năm nghỉ hưu trước tuổi ngoại trừ 05 trường hợp sau đây (tính đến thời điểm hiện tại):
1. Lao động nam từ đủ 55 - 60 tuổi, nữ từ đủ 50 - 55 tuổi và có đủ 15 năm làm nghề hoặc công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm hoặc đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm thuộc danh mục do Bộ LĐ-TB&XH, Bộ Y tế ban hành hoặc có đủ 15 năm làm việc ở nơi có phụ cấp khu vực hệ số 0,7 trở lên (điểm b khoản 1 Điều 54 Luật BHXH 2014).
2. Người lao động từ đủ 50 - 55 tuổi và có đủ 20 năm đóng BHXH trở lên mà trong đó có đủ 15 năm làm công việc khai thác than trong hầm lò (điểm c khoản 1 Điều 54 Luật BHXH 2014).
3. Người bị nhiễm HIV/AIDS do tai nạn rủi ro nghề nghiệp (điểm d khoản 1 Điều 54 Luật BHXH 2014).
4. Cán bộ, công chức, viên chức thuộc diện tinh giản biên chế đủ 50 - 55 tuổi đối với nam, đủ 45 - 50 tuổi đối với nữ, có 20 năm đóng BHXH trở lên mà trong đó có đủ 15 năm làm nghề hoặc công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm thuộc danh mục do Bộ LĐ-TB&XH, Bộ Y tế ban hành hoặc có đủ 15 năm làm việc ở nơi có phụ cấp khu vực hệ số 0,7 trở lên (khoản 1, khoản 3 Điều 8 Nghị định 108/2014/NĐ-CP).
5. Cán bộ, công chức, viên chức thuộc diện tinh giản biên chế đủ 55 - 60 tuổi đối với nam, đủ 50 - 55 tuổi đối với nữ và có 20 năm đóng BHXH trở lên (khoản 2, khoản 4 Điều 8 Nghị định 108/2014/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung tại Nghị định số 113/2018/NĐ-CP).
Nếu thuộc một trong các trường hợp nêu trên, cán bộ, công chức, viên chức và người lao động vẫn được hưởng lương hưu tính theo số năm đã đóng BHXH của mình mà không bị trừ tỷ lệ do nghỉ hưu trước tuổi.
Bảo hiểm xã hội Việt Nam





